Phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đối tượng và địa bàn vùng dân tộc thiểu số.
Đề
án được thực hiện từ năm 2026 đến hết năm 2035 tại vùng đồng bào dân
tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt
khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, địa bàn phức tạp về an
ninh, trật tự xã hội. Trong đó, ưu tiên thôn, xã đặc biệt khó khăn; địa
bàn còn hủ tục, tập quán lạc hậu, nhận thức pháp luật của người dân còn
hạn chế. Khuyến khích các địa phương khác triển khai thực hiện công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) cho đồng bào dân tộc thiểu số trên
địa bàn.
Đổi mới toàn diện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật để tạo đột phá về nhận thức, ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật
Mục
đích của Đề án là đổi mới toàn diện công tác PBGDPL để tạo đột phá về
nhận thức, ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật và xây dựng văn hóa
tuân thủ pháp luật; hình thành thói quen tự giác tìm hiểu pháp luật phù
hợp với đặc thù của đồng bào dân tộc thiểu số, địa bàn vùng đồng bào dân
tộc thiểu số và miền núi; góp phần thực hiện thống nhất, đồng bộ, hiệu
quả công tác dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính
sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền
núi; củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc và lòng tin của
đồng bào với Đảng và Nhà nước.
Từ nay đến năm 2030, Đề án
phấn đấu đào tạo, bồi dưỡng khoảng 650 người theo chương trình, tài
liệu của Đề án để trở thành đội ngũ hạt nhân nòng cốt triển khai thực
hiện công tác PBGDPL tại các địa phương.
Phấn
đấu 100% địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hoàn
thành xây dựng, ban hành chương trình, tài liệu bồi dưỡng kiến thức, kỹ
năng, nghiệp vụ PBGDPL đặc thù phù hợp với đồng bào dân tộc thiểu số và
địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Bảo đảm nội dung
PBGDPL có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với đối tượng và đặc điểm vùng
miền. Khuyến khích các địa phương còn lại xây dựng, ban hành chương
trình, tài liệu của địa phương mình.
Phấn
đấu số hóa 70% chương trình, tài liệu PBGDPL của Đề án và công bố công
khai trên Cổng thông tin PBGDPL Quốc gia, Cổng thông tin PBGDPL địa
phương, mạng internet hoặc được xuất bản, phát hành bằng hình thức phù
hợp.
Phấn đấu mỗi xã đặc biệt khó khăn có ít nhất 02 người làm công tác PBGDPL
Đề
án phấn đấu mỗi xã đặc biệt khó khăn có ít nhất 02 người làm công tác
PBGDPL được bồi dưỡng theo bộ chương trình, tài liệu của Đề án để triển
khai công tác PBGDPL trên địa bàn.
Khoảng
50% người dân sinh sống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi;
60% người dân sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt
khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, địa bàn phức tạp về an
ninh, trật tự; 70% người dân thuộc nhóm dân tộc thiểu số còn gặp nhiều
khó khăn, có khó khăn đặc thù được PBGDPL bằng hình thức phù hợp. Trong
đó, ít nhất 30% hoạt động PBGDPL được thực hiện bằng ngôn ngữ của các
dân tộc thiểu số, 50% hoạt động PBGDPL được thực hiện thông qua môi
trường số.
Để đạt được các mục tiêu trên, Đề án thực hiện đồng bộ 04 nhóm nhiệm vụ, giải pháp sau:
Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng và trách nhiệm của người đứng đầu địa phương trong công tác PBGDPL
Chuyển
đổi nhận thức của các cấp, các ngành nhất là người đứng đầu cơ quan, tổ
chức về vai trò, tầm quan trọng của công tác PBGDPL nói chung, PBGDPL
cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền
núi nói riêng. Bảo đảm các hoạt động PBGDPL được triển khai thực hiện
thường xuyên, liên tục, kiên trì, kiên định, hiệu quả, từng bước nâng
cao nhận thức và ý thức tuân thủ pháp luật của đồng bào dân tộc thiểu
số, người dân ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Ưu tiên bố
trí nguồn lực tương xứng cho công tác PBGDPL đối với người đồng bào dân
tộc thiểu số, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Lồng
ghép thực hiện các hoạt động của Đề án trong các chương trình, kế hoạch
công tác của cấp ủy, chính quyền các cấp; xác định việc hoàn thành
nhiệm vụ PBGDPL là một tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của
cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn
của Hội đồng phối hợp PBGDPL các cấp trong việc thực hiện Đề án phù hợp
đặc thù của địa phương, bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
PBGDPL trên địa bàn.
Xây dựng, phát triển và nâng cao năng lực cho đội ngũ hạt nhân nòng cốt làm công tác PBGDPL
Xây
dựng đội ngũ hạt nhân nòng cốt làm công tác PBGDPL có trình độ, kiến
thức, hiểu biết pháp luật, am hiểu phong tục tập quán, văn hóa truyền
thống của đồng bào dân tộc thiểu số, ưu tiên người có khả năng sử dụng
ngôn ngữ dân tộc thiểu số.
Thu hút sự tham gia và tăng
cường vai trò của bí thư chi bộ, trưởng thôn, bản; người có uy tín trong
đồng bào dân tộc thiểu số; người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã,
thôn, bản; chức sắc, chức việc tôn giáo, người đứng đầu các tổ chức tôn
giáo trong công tác PBGDPL.
Định kỳ hằng năm tổ chức bồi
dưỡng, tập huấn về kiến thức pháp luật, chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, chính sách dân tộc,
chính sách tôn giáo, chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng
bào dân tộc thiểu số và miền núi, kỹ năng, nghiệp vụ chuyên biệt (kỹ
năng ứng dụng công nghệ thông tin, ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số,
sử dụng AI, mạng xã hội trong PBGDPL...) để nâng cao năng lực cho đội
ngũ hạt nhân nòng cốt làm công tác PBGDPL.
Đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức PBGDPL
Về nội dung, Đề án xây
dựng nội dung PBGDPL phù hợp với từng nhóm đối tượng gắn với phong tục,
tập quán, văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; gắn với phát
triển kinh tế - xã hội, giải quyết sinh kế, việc làm, an sinh xã hội;
gắn với việc tuyên truyền về giáo lý, giáo luật đối với đồng bào dân tộc
thiểu số có đạo.
Đẩy
mạnh truyền thông chính sách, nhất là chủ trương, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước có tác động lớn đến xã hội, người dân tộc thiểu
số, người dân sinh sống tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Trong đó tập trung PBGDPL về công tác dân tộc, chính sách dân tộc, chính
sách tôn giáo, chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân
tộc thiểu số và miền núi; lợi ích của việc chấp hành pháp luật, tuân
thủ pháp luật; tác động của chính sách, pháp luật đối với việc nâng cao
đời sống vật chất, tinh thần của người dân.
Xây
dựng các tiểu phẩm, phóng sự, câu chuyện giải quyết tình huống pháp
luật mang ý nghĩa tuyên truyền, phổ biến giáo dục ý thức chấp hành pháp
luật, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật liên quan đến phong tục tập
quán, văn hóa truyền thống, đời sống, sinh hoạt của đồng bào dân tộc
thiểu số và vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi...
Về
phương pháp, hình thức, củng cố, xây dựng và duy trì các mô hình PBGDPL
tại cộng đồng, hướng hoạt động PBGDPL về cơ sở, thực hiện PBGDPL trên
môi trường số như ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số, chuyển đổi
số, sử dụng các phần mềm chuyên dụng, mạng xã hội (Youtube, Facebook,
Zalo, Twitter...); tổ chức “Ngày Pháp luật Việt Nam”; ưu tiên PBGDPL
bằng tiếng dân tộc thiểu số với hình thức phù hợp cho đồng bào dân tộc
thiểu số không biết tiếng phổ thông; phát thanh, truyền hình các nội
dung PBGDPL theo chương trình, tài liệu của Đề án vào khung giờ thu hút
đông đảo khán giả, thính giả...
Nâng cao năng lực, giám sát, đánh giá thực hiện Đề án
Định
kỳ tổ chức đối thoại, hội nghị, hội thảo, tọa đàm và các hoạt động khác
để trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, mô hình, cách làm hay, hiệu quả; từng
bước đổi mới, nâng cao chất lượng công tác PBGDPL phù hợp với đối
tượng, địa bàn của Đề án.
Tổ
chức học tập, trao đổi kinh nghiệm trong và ngoài nước nhằm nâng cao
kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ gắn với thực tiễn, đặc thù của Đề án và
hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện Đề án bằng
hình thức phù hợp, thực chất nhằm kịp thời tháo gỡ vướng mắc, bất cập và
báo cáo cấp có thẩm quyền điều chỉnh (nếu cần)...
Phương Nhi
Nguồn: baochinhphu.vn (04/02/2026).