Nghệ An ban hành Đề án phát triển cây trồng, vật nuôi chủ lực gắn với chế biến, bảo quản liên kết chuỗi giá trị sản phẩm
Hôm
nay (03/7/2026), UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2948/QĐ-UBND phê duyệt Đề án
phát triển cây trồng, vật nuôi chủ lực gắn với chế biến, bảo quản liên kết chuỗi
giá trị sản phẩm trên địa bàn tỉnh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Phấn
đấu đến năm 2045, Nghệ An hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, đóng
vai trò trụ cột cho kinh tế nông thôn
Đề
án đặt mục tiêu tổng quát là phát triển sản xuất các cây trồng, vật nuôi chủ lực
của tỉnh Nghệ An theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, hình thành các vùng sản
xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn gắn liền với công nghệ chế biến, bảo quản hiện
đại, xây dựng thương hiệu mạnh phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Giai
đoạn 2026 – 2030 phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất các sản phẩm nông
nghiệp chủ lực đạt bình quân 5 - 5,5%/năm. Tỷ trọng đóng góp chiếm từ 80 - 85%
tổng giá trị ngành nông, lâm, thủy sản của tỉnh. Kim ngạch xuất khẩu chiếm 93 -
95% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Xây dựng mới từ 100 - 150 chuỗi liên kết
sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm bền vững với sự tham gia của trên 150 -
165 doanh nghiệp và 300 hợp tác xã (HTX). Đảm bảo 100% sản phẩm trong chuỗi được
kiểm soát chặt chẽ về chất lượng.
Tầm
nhìn đến năm 2045, Nghệ An hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại,
đóng vai trò trụ cột cho kinh tế nông thôn. Trong đó, 100% cây trồng, vật nuôi
chủ lực sẽ được quy hoạch sản xuất tập trung quy mô lớn, ứng dụng công nghệ
cao, nông nghiệp số và tuần hoàn, đạt tiêu chuẩn quốc tế và sở hữu thương hiệu mạnh
trên thị trường toàn cầu.
Định
hướng chi tiết từng loại cây trồng đến năm 2030
Tại
Quyết định UBND tỉnh đã vạch rõ định hướng chi tiết cho từng loại cây trồng đến
năm 2030, nhấn mạnh vào cơ giới hóa, tiêu chuẩn VietGAP/GlobalGAP/Hữu cơ và chế
biến sâu.
Cụ
thể, đối với cây Lúa: Ổn định diện tích 163.500 ha/2 vụ (sản lượng
932.000 tấn/năm); tỷ lệ giống chất lượng cao đạt trên 90%. Áp dụng cơ giới hóa
đồng bộ và chuyển đổi số trên 20.000 ha. Nâng công suất chế biến lên 700.000 -
800.000 tấn/năm và hình thành từ 3 - 5 trung tâm chế biến, logistics hiện đại.
Cây
Sắn:
Ổn định diện tích 12.000 ha tại vùng trung du, miền núi (sản lượng 312.000 tấn/năm).
Duy trì 03 nhà máy hiện có, tập trung nâng cấp công nghệ chế biến sâu (cồn sinh
học, tinh bột biến tính).
Cây
Mía:
Mở rộng diện tích lên 25.700 ha (sản lượng 2,2 triệu tấn/năm). Ứng dụng công
nghệ cao/VietGAP trên khoảng 10.000 ha. Tối ưu hóa hiệu quả chuỗi tuần hoàn (bã
mía làm điện, mật rỉ làm cồn/thức ăn).
Rau
củ quả: Phát triển diện tích đạt 45.000 ha (sản lượng
765.000 tấn). Mở rộng 4.500 ha ứng dụng công nghệ cao và 25 - 30% diện tích đạt
chuẩn VietGAP/GlobalGAP/Hữu cơ. Phát triển chuỗi cung ứng lạnh và kết hợp mô
hình du lịch nông nghiệp, farmstay.
Chè
công nghiệp: Phát triển diện tích đạt 12.000 ha (sản
lượng 155.000 - 160.000 tấn chè búp tươi/năm). Tập trung vào các vùng chè truyền
thống và phát triển chè Shan Tuyết đặc sản miền núi gắn với du lịch sinh thái -
văn hóa (Đảo chè Thanh An, Kỳ Sơn). Nâng cấp công nghệ của 55 cơ sở chế biến hiện
có nhằm đa dạng hóa sản phẩm cao cấp.
Cây
Cam:
Phát triển diện tích đạt 4.000 ha (sản lượng 57.600 tấn/năm), trọng tâm là các
giống đặc sản (Cam Xã Đoài, Cam V2, cam không hạt). Kéo dài thời gian bảo quản
bằng công nghệ hiện đại đạt từ 20 - 30 ngày, hướng tới xuất khẩu đạt 5 - 10 triệu
USD/năm sang các thị trường các nước: Nhật Bản, EU, Hàn Quốc. Đồng thời duy trì
tổ chức Lễ hội Cam Vinh.
Cây
Dứa:
Mở rộng diện tích đạt 13.000 ha (sản lượng 300.000 tấn/năm), chuyển đổi mạnh
sang các giống MD2, Cayen và Queen. Mục tiêu 70 - 80% sản lượng dứa được đưa
vào chế biến sâu, tận dụng phế phụ phẩm chiết xuất enzyme Bromelain hoặc sản xuất
vải, giấy từ lá dứa.
Dược
liệu:
Mở rộng diện tích đạt 8.000 ha (sản lượng 52.000 tấn/năm) theo mô hình
"liên kết 4 nhà". Ứng dụng công nghệ sấy thăng hoa, sấy hồng ngoại,
chiết xuất đạt tiêu chuẩn GMP, ISO, HACCP.
Cây
gỗ nguyên liệu: Phát triển diện tích đạt 180.000 ha rừng
trồng, nâng diện tích rừng gỗ lớn lên 30 - 35% (60.000 ha). Phấn đấu đạt 55.000
- 60.000 ha rừng có chứng chỉ quốc tế FSC/PEFC/VFCS. Tập trung thu hút đầu tư
công nghệ hiện đại vào Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao Bắc Trung Bộ.
Đối
với lĩnh vực chăn nuôi, chăn nuôi Lợn: Phát triển tổng đàn đạt 1,3 triệu
con (sản lượng thịt hơi đạt 225.000 tấn/năm). 100% trang trại lớn ứng dụng công
nghệ thông minh (IoT, chuồng lạnh, xử lý chất thải biogas). Xây dựng tối thiểu
3 chuỗi sản phẩm thịt lợn đủ điều kiện xuất khẩu.
Chăn
nuôi Gia cầm: Tổng đàn đạt 56 triệu con (gà chiếm 80 -
85%), sản lượng thịt hơi đạt 130.000 tấn/năm. Đầu tư mới từ 5 - 10 nhà máy chế
biến sâu đạt tiêu chuẩn quốc tế để xuất khẩu sang các nước: Nhật Bản, EU, Hàn
Quốc.
Chăn
nuôi Bò thịt: Tổng đàn đạt 555.000 con (sản lượng thịt
hơi trên 37.200 tấn/năm). Phấn đấu 40% bò được vỗ béo trước khi giết mổ, thu
hút đầu tư các nhà máy giết mổ đạt chuẩn quốc tế HACCP, HALAL phục vụ xuất khẩu.
Chăn
nuôi Bò sữa: Phát triển quy mô tổng đàn đạt 95.000
con, sản lượng đạt 450.000 tấn sữa/năm. Tiếp tục mở rộng các vùng chăn nuôi tập
trung công nghiệp đầu tàu (TH True Milk, Vinamilk tại Nghĩa Lâm, Đông Hiếu) kết
hợp phát triển các trang trại vệ tinh và điểm du lịch trải nghiệm sinh thái.
Nuôi
Tôm:
Đạt diện tích 2.250 ha, sản lượng 14.000 tấn/năm (giá trị trên 3.000 tỷ đồng).
Mở rộng các vùng nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao (hệ thống RAS/Biofloc,
nhà kính) tại các xã ven biển và thí điểm nuôi tôm sinh thái kết hợp rừng ngập
mặn.
Nuôi
Cá:
Đạt diện tích 19.550 ha, sản lượng 60.000 tấn/năm. Phát triển mạnh nuôi cá lồng
trên các hồ chứa lớn (Bản Vẽ, Vực Mấu, Khe Bố) với các loài cá đặc sản, kết hợp
mô hình "Du lịch nông nghiệp thủy sản".
Áp
dụng mô hình Nông nghiệp 4.0, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và nuôi
trồng
Để
hiện thực hóa các mục tiêu trên, UBND tỉnh đề ra các nhóm giải pháp trọng tâm.
Đó là ưu tiên phát triển HTX kiểu mới làm cầu nối vững chắc giữa người nông dân
và doanh nghiệp thông qua hợp đồng bao tiêu sản phẩm rõ ràng. Đẩy mạnh xây dựng
và bảo hộ thương hiệu nông sản chủ lực (Cam Vinh, Gạo chất lượng cao,...) và
đưa sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử.
Áp
dụng mô hình Nông nghiệp 4.0, ứng dụng cảm biến, IoT, thiết bị bay không người
lái (drone) vào canh tác. Số hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, minh bạch thông tin
qua mã số vùng trồng, nhật ký điện tử và hệ thống truy xuất nguồn gốc QR code,
Blockchain.
Triển
khai các chính sách ưu đãi đa chiều từ hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn vay, thành lập
Quỹ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, đến miễn giảm tiền thuê đất và ưu đãi
thuế thu nhập doanh nghiệp cho các dự án nông nghiệp công nghệ cao, chế biến
sâu.
Tăng
cường tập huấn, phổ biến sâu rộng các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ; vận
động người dân chủ động, mạnh dạn ứng dụng khoa học công nghệ nhằm cải tiến quy
trình sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Nghệ An trên trường quốc tế...
PQ (tổng hợp)