Tổ chức triển khai thực hiện các nội dung Nghị quyết một cách quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm
Tại Hội nghị toàn quốc
nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần
thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV diễn ra vào sáng nay
(13/4/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã phát biểu chỉ đạo, đề ra các
nhiệm vụ tập trung thực hiện thời gian tới.
Phát
biểu kết luận hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu sau Hội nghị các
đại biểu phải nắm vững, thấm nhuần và tổ chức triển khai thực hiện các nội dung
một cách quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm. Qua đó, tạo
ra chuyển biến rõ nét trong toàn hệ thống chính trị và lan tỏa thành động lực
phát triển trong toàn xã hội.
Quang cảnh hội nghị tại điểm
cầu tỉnh Nghệ An
Các đại biểu
dự hội nghị tại điểm cầu Nghệ An
Các quy định của Đảng
là thể chế bản lề để thực hiện, hiện
thực hóa tầm nhìn, tổ chức hóa ý chí thành trật tự vận hành triển khai trên
thực tế
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại hội nghị (Ảnh:
TTXVN)
Theo Tổng Bí thư Tô Lâm, nếu đường lối, chủ trương là sự kết
tinh của tầm nhìn, của ý chí chính trị thì các quy định của Đảng chính là thể
chế bản lề để thực hiện, hiện thực hóa tầm nhìn, tổ chức hóa ý chí thành trật
tự vận hành triển khai trên thực tế. Đảm bảo cho Đảng ta vận hành trong một
khối thống nhất, xuyên suốt từ Trung ương đến cơ sở trong mọi hoàn cảnh và
trong mọi giai đoạn phát triển.
Đặc biệt là trong bối cảnh đất nước đang đứng trước những cơ
hội lớn để bứt phá vươn lên, đồng thời phải đáp ứng những yêu cầu rất cao, rất
mới, rất lớn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì yêu cầu về giữ vững
nguyên tắc kỷ luật, kỷ cương và sự thống nhất trong toàn Đảng trở thành yếu tố
then chốt nhằm nâng cao toàn diện năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức
chiến đấu và năng lực tổ chức thực hiện của Đảng.
Yêu cầu đặt ra là mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng
viên phải nhận thức đúng, hiểu sâu và thực hiện nghiêm các quy định của Đảng;
coi đó là trách nhiệm chính trị trực tiếp của mình, không được phép làm khác, càng
không được vận dụng theo hướng thuận lợi cho riêng mình. Mọi quy định phải được
thực hiện thống nhất, đồng bộ; quán triệt từ trên xuống dưới, gắn với kiểm tra,
giám sát chặt chẽ và xử lý nghiêm minh các vi phạm; đồng thời khuyến khích,
biểu dương những cách làm tốt, sáng tạo.
Đổi mới căn bản tư
duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực và vốn để tăng trưởng bền
vững.
Theo đồng chí Tổng Bí thư, trong một thời gian dài, ở không
ít nơi, không ít cấp vẫn tồn tại tư duy phát triển chủ yếu dựa vào cái sẵn có.
Lấy ngân sách nhà nước, đất đai và đầu tư công làm trụ cột chính. Về bản chất,
đó là cách tiếp cận coi nguồn lực phát triển là hữu hạn, thiên về phân chia. Nếu
không được điều chỉnh kịp thời, tư duy này sẽ trở thành lực cản lớn đối với quá
trình phát triển trong giai đoạn mới. Nền kinh tế muốn phát triển cao, bền vững
và có khả năng bứt phá, không chỉ vận hành trên nền tảng nguồn lực đơn nhất,
càng không thể đặt toàn bộ gánh nặng phát triển lên vai nhà nước.
Do đó, yêu cầu đặt ra là không đơn thuần chỉ là điều chỉnh
cơ cấu nguồn vốn, mà chuyển đổi căn bản tư duy phát triển từ tập trung phân bổ
nguồn lực sang kiến tạo, dẫn dắt và kích hoạt nguồn lực. Nhà nước cần chuyển từ
vai trò là người đầu tư trực tiếp sang vai trò thiết kế, tạo ra môi trường để
mọi nguồn lực trong xã hội được huy động và phân bổ theo tín hiệu thị trường,
dưới khuôn khổ thể chế minh bạch và ổn định.
Trên nền tảng đó việc định vị lại vai trò của các nguồn vốn
trong cấu trúc phát triển mới, không để các dòng vốn tồn tại biệt lập, mà tương
tác tốt lại và dẫn dắt. Vốn Nhà nước phải định vị đúng bản chất là vốn mồi, vốn
kiến tạo, định hình không gian phát triển, giảm thiểu rủi ro ban đầu, từ đó dẫn
dắt, kích hoạt hiệu quả các dòng vốn ngoài Nhà nước.
Vốn doanh nghiệp, bao gồm cả khu vực tư nhân và FDI, cần
được định hướng vào các ngành sản xuất giá trị gia tăng cao, các giá trị đổi
mới sáng tạo và chuỗi giá trị tri thức. Nguồn vốn vay nước ngoài cũng phải được
sử dụng theo nguyên tắc chọn lọc chiến lược, gắn với năng lực hấp thụ và khả
năng trả nợ trong dài hạn, ưu tiên cho các dự án hạ tầng then chốt trong lĩnh
vực có khả năng lan tỏa cao.
Thị trường tài chính bao gồm thị trường vốn, tín dụng và
trái phiếu phải thực sự trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn cho nền kinh
tế, trọng tâm là hướng nguồn vốn vào các ngành sản xuất, đổi mới sáng tạo, hệ
thống hạ tầng thiết yếu và nâng cao chất lượng của phát triển.
Đặc biệt quan trọng là khơi dậy nguồn vốn trong nhân dân.
Xem đây là đột phá chiến lược trong giai đoạn mới. Đây không chỉ là nguồn vốn
tài chính mà còn là tổng hoà của trí tuệ, của kỹ năng, sức lao động, tinh thần
doanh nhân và khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng của hàng chục triệu người
dân. Khi được kích hoạt hiệu quả, nguồn lực này có thể chuyển hóa thành động
lực nội sinh vô cùng to lớn, góp phần nâng cao khả năng tự cường của nền kinh
tế.
Kiên quyết khắc phục
tư duy cục bộ địa giới hành chính, cục bộ ngành, cục bộ nhiệm kỳ trong khu vực
phát triển
Theo đồng chí Tổng Bí thư, quy hoạch phát triển tổng thể
phải được thực hiện theo tư duy tích hợp đa mục tiêu, dài hạn, tạo ra một cấu
trúc phát triển hợp lý hơn, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, phân bổ không gian
phát triển cân đối hơn, kết nối các vùng tốt hơn và mở ra dư địa tăng trưởng
lớn hơn cho tương lai.
Nếu quy hoạch mà làm theo tư duy khép kín, cục bộ, manh mún,
mạnh ai nấy làm thì không những không mở ra được không gian phát triển mới mà
còn tạo ra xung đột, chồng lấn, lãng phí nguồn lực, làm đứt gãy tính liên kết,
kéo tụt hiệu quả của phát triển chung, thậm chí còn kìm hãm sự phát triển.
Mỗi quy hoạch phát triển của địa phương, quy hoạch ngành
phải được nhìn trong một cấu trúc tổng thể gắn với liên kết vùng, với tầm nhìn
hướng Đông, phía Tây và trục Bắc - Nam hiện đại. Đó là tầm nhìn về tổ chức
không gian phát triển quốc gia theo hướng lấy hướng Đông là không gian đột phá,
mở ra đại dương, từ đó lan tỏa sức phát triển sang phía Tây của đất nước; trục
Bắc - Nam như dải xương sống của cơ thể con người.
Cùng với nền tảng đó, muốn quyết định phát triển được thì
phải xem xét trong mối quan hệ hữu cơ với hạ tầng năng lượng, dân cư, lao động
và bảo vệ môi trường, an ninh lương thực và yêu cầu phát triển dài hạn của đất
nước, không tùy tiện quy hoạch để phát sinh lỗ hổng, khoảng trống hoặc mâu
thuẫn lợi ích giữa các địa phương, các ngành, các cấp.
Đặc biệt, trong quy hoạch tổng thể phải đặc biệt chú trọng
hơn nữa đến quy hoạch về năng lượng. Năng lượng phải được đặt trong tổng thể
phát triển quốc gia, tương quan với công nghiệp, đô thị, logistics, hạ tầng số,
chuyển đổi xanh, khả năng chống chịu và an ninh quốc gia, cũng phải đảm bảo tự
chủ.
Đi liền với quy hoạch là vấn đề phát triển dự án. Dứt khoát
phải chấm dứt tình trạng đầu tư theo phong trào, theo mong muốn chủ quan, theo
cơ chế xin cho, theo nhiệm kỳ. Mọi dự án muốn phát triển phải đặt trong quy
hoạch tổng thể và được xem xét một rõ ràng, nghiêm túc. Trong đó, yêu cầu phát
triển theo tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng quốc gia và yêu cầu đồng bộ, hiện
đại và vận hành lâu dài cho mục tiêu phát triển thực sự.
Khơi thông nguồn lực
trong dân để đảm bảo mọi người dân, mỗi doanh nghiệp đều trở thành chủ thể của
tăng trưởng
Mục tiêu tăng trưởng hai con số là mục tiêu rất lớn và đòi
hỏi quyết tâm rất cao, cách làm sáng tạo để làm sao cho đảm bảo vĩ mô đúng,
nhưng vi mô cũng phải được. Nếu vi mô không thông suốt, dòng vốn không chảy đến
nơi cần, lao động không sử dụng hiệu quả, sản xuất gặp tắc nghẽn, hộ gia đình
và doanh nghiệp nhỏ không có động lực vươn lên thì tăng trưởng sẽ thiếu lực
đẩy, thiếu sức bền, thiếu nhạy cảm với phát triển bền vững cho cả quốc gia.
Nền kinh tế chỉ thực sự mạnh khi từng tế bào phải mạnh. Vì
vậy, tăng trưởng thực chất phải được hình thành cả hai chiều từ trên xuống và
từ dưới lên, trong từng mắt xích của nền kinh tế, từng hộ gia đình, từng hộ
kinh doanh, từng cơ sở sản xuất, từng doanh nghiệp. Khi nội lực trong dân được
khơi thông, khi kết nối với nguồn lực nhà nước, với hạ tầng, với thị trường,
với công nghệ, với đào tạo, với tín dụng, với quy hoạch phát triển thì nền kinh
tế sẽ có nền móng nội lực vững chắc cho sự tăng trưởng một cách ổn định và bền
vững.
Vì vậy, cần phải kiến tạo một môi trường phát triển để hàng
triệu người dân nhận thấy được cơ hội thực sự, để mỗi gia đình, mỗi hộ kinh
doanh có điều kiện thuận lợi để đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh chân chính
và gắn bó lâu dài với nền kinh tế. Đồng thời, phải bảo đảm rằng các doanh
nghiệp nhìn thấy được thể chế ổn định, minh bạch, chi phí tuân thủ hợp lý, hạ
tầng đồng bộ và khả năng tiếp cận thị trường rộng mở. Từ đó, tạo ra động lực
nội sinh mạnh mẽ để thúc đẩy sáng tạo, khởi nghiệp và phát triển một cách bền
vững.
Mỗi cơ chế chính sách, mỗi dự án hạ tầng, mỗi dòng vốn đều
phải hướng đến việc kích hoạt năng lượng, khát vọng phát triển trong dân, biến
cơ hội, tiềm năng thành thực tế tăng trưởng và biến niềm tin thành động lực
phát triển lâu dài cho đất nước, cho nền kinh tế.
Tiếp tục hoàn thiện
và nâng cao hiệu lực, hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp
Tổng Bí thư Tô Lâm đánh giá, sau gần một năm triển khai mô
hình chính quyền địa phương hai cấp và vượt qua giai đoạn khởi động ban đầu,
bước đầu định hình cơ chế vận hành tương đối ổn định, thông suốt và đang chuyển
sang giai đoạn nâng cao chất lượng thực thi, hướng tới hiệu lực, hiệu quả và
thực chất.
Tuy nhiên, để mô hình này phát huy đầy đủ giá trị và sức
mạnh, cần được đặt trong chỉnh thể thống nhất của nền quản trị quốc gia với một
nguyên lý xuyên suốt: Trung ương mạnh về định hướng chiến lược, thể chế và giám
sát; Địa phương mạnh về tổ chức thực hiện. Trong đó, cấp xã đóng vai trò then
chốt quyết định chất lượng vận hành hiệu quả của cả hệ thống.
Năm 2026, Trung ương đã xác định là năm cán bộ cơ sở, tập
trung vào việc bồi dưỡng, xây dựng định hướng cho cán bộ cơ sở. Vì vậy, cần xây
dựng cấp xã mạnh về năng lực ra quyết định. Cấp xã phải được phân quyền rõ ràng
gắn với nguồn lực và trách nhiệm cụ thể để có thể chủ động giải quyết các vấn
đề phát sinh từ hạ tầng, dịch vụ xã hội cho đến quản lý kinh tế - xã hội. Quyền
hạn gắn liền với trách nhiệm sẽ tạo ra hiệu quả thực chất, tránh chồng chéo và
trì trệ.
Tiếp đó, cấp xã mạnh về huy động nguồn lực sẽ giúp cấp tỉnh
chủ động hơn trong việc điều phối và triển khai các phương án chiến lược. Cấp
xã cũng là nơi kết nối trực tiếp các nguồn lực xã hội, kinh tế và nhân lực tại
địa phương. Khả năng huy động và phân bổ hiệu quả các loại nguồn lực sẽ giúp
tối ưu, nâng cao năng lực thực thi của cả hệ thống chính quyền hai cấp.
Cuối cùng là cấp xã mạnh về giám sát và phản hồi. Cấp xã
năng động sẽ cung cấp dữ liệu và thông tin chính xác về thực trạng và nhu cầu của
người dân, từ đó giúp cấp tỉnh ra các quyết sách phù hợp, kịp thời và chính xác.
Đây chính là cơ chế để tạo sức mạnh, đảm bảo tính động lực tổng thể của chính
quyền địa phương hai cấp.
Để cấp xã trở thành động lực nâng cấp chính quyền cấp tỉnh
thì mọi nghị quyết, chính sách và dự án phải được chuyển hóa thành hành động cụ
thể. Đồng thời, các quyết định này phải hướng tới trực tiếp nâng cao chất lượng
đời sống của người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, năng lực cạnh
tranh của địa phương. Đây cũng sẽ chính là nền tảng tạo nên sự thông suốt và
hiệu quả của toàn hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị các cấp ủy, tổ
chức đảng, cán bộ, đảng viên từ Trung ương đến cơ sở phải thực sự vào cuộc với
tinh thần trách nhiệm cao nhất, chủ động hơn, quyết liệt hơn và thực chất hơn.
Mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương phải tự đặt mình trong tổng thể chung, nhìn
rõ vai trò trách nhiệm của mình trong bức tranh phát triển chung của đất nước,
từ đó hành động một cách nhất quán, có kỷ cương, có hiệu quả. Điều quan trọng
hơn cả là phải tạo được niềm tin và động lực phát triển cho toàn xã hội. Khi
người dân tin tưởng, doanh nghiệp tin tưởng, hệ thống vận hành thông suốt,
nguồn lực được khơi thông thì khát vọng phát triển sẽ được chuyển hóa thành sức
mạnh thực tế, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong những
giai đoạn tới.
PT