Nghệ An ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An
vừa ban hành Chương trình hành động số 35-CTr/TU, ngày 28/8/2026, thực hiện
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
XIV và Chương trình hành động số 33-CTr/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị thực
hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi
mới mô hình phát triển Việt Nam.
Chương trình
nhằm tạo sự thống nhất cao về nhận thức, chuyển biến mạnh mẽ trong hành động
của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân về đổi mới mô
hình phát triển đất nước; cụ thể hóa Nghị quyết, phân công rõ trách nhiệm,
nguồn lực, tiến độ, sản phẩm và các điều kiện cần thiết để tổ chức thực hiện.
Việc triển
khai phải quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, gắn với nghị quyết đại hội đảng bộ
các cấp và các nghị quyết chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng -
an ninh, xây
dựng, chỉnh đốn Đảng; phát huy dân chủ, huy động, sử dụng hiệu quả nguồn lực,
bảo đảm thực chất, không hình thức; tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết
quả và thực hiện nghiêm chế độ báo cáo, sơ kết, tổng kết.
Đổi mới quản trị, hoàn thiện thể chế,
xây dựng chính quyền số
Đến năm
2030, Nghệ An phấn đấu hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới; tạo
đột phá về thể chế, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, hạ tầng chiến lược,
hạ tầng năng lực tri thức, nguồn nhân lực chất lượng cao và doanh nghiệp dẫn
dắt.
Tỉnh phấn
đấu trở thành tỉnh khá của cả nước, cực tăng trưởng có vai trò động lực của
vùng Bắc Trung Bộ và tầm quốc gia; phát triển nhanh, bền vững, mạnh về kinh tế
biển; là trung tâm của vùng về công nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao, y tế,
giáo dục, khoa học, công nghệ, thương mại, logistics và du lịch; là đầu mối kết
nối giao thương Đông - Tây với Lào và tiểu vùng Mê Công mở rộng.
Đến năm
2035, tỉnh cơ bản hoàn thành quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển tự cường,
sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; hình thành đồng bộ các mô hình thành
phần trên các lĩnh vực quản trị, kinh tế - xã hội, văn hóa, con người, môi
trường, quốc phòng - an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Đến năm
2045, Nghệ An hoàn thành chuyển đổi sang mô hình phát triển tự cường, sáng tạo,
nhân văn, bền vững, hội nhập; trở thành tỉnh có thu nhập cao, phát triển toàn
diện, văn minh, hiện đại.
Chương trình
xác định nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; lấy
năng lực hoạch định chiến lược, kiến tạo thể chế, tổ chức thực thi, tự chỉnh
đốn và tự đổi mới làm trọng tâm. Đánh giá cán bộ lấy hiệu quả công việc làm
thước đo chủ yếu; khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ,
dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Việc xây
dựng, triển khai nghị quyết, kết luận của Đảng được đổi mới theo quy trình “6
rõ”: Rõ người, rõ việc,
rõ thẩm quyền, rõ nguồn lực, rõ thời gian và rõ sản phẩm đầu ra. Đổi mới quản
trị theo mục tiêu, kết quả đầu ra và tác động phát triển; đề cao trách nhiệm
người đứng đầu, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; phòng,
chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quan liêu, trì trệ và né tránh trách
nhiệm.
Chuyển từ
quản lý hành chính đơn thuần sang kiến tạo hệ sinh thái phát triển; nghiên cứu
cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, thực hiện cơ chế chấp nhận rủi ro trong nghiên
cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền.
Nghệ An xây
dựng, hoàn thiện chính quyền điện tử, chính quyền số, dữ liệu dùng chung và nền
tảng số để theo dõi, giám sát dự án đầu tư, quy hoạch và các chỉ tiêu phát
triển kinh tế - xã hội; bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm an toàn thông tin số.
Bộ máy hệ
thống chính trị được tổ chức theo hướng tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu
quả, theo nguyên tắc mỗi việc chỉ giao một cơ quan đầu mối chủ trì; hoàn thiện
mô hình chính quyền địa phương hai cấp; xây dựng cấp cơ sở đủ năng lực, thẩm
quyền và nguồn lực.
Tổ chức lại không gian phát triển,
đổi mới mô hình tăng trưởng
Nghệ An xác
lập mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng
tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao; phát
triển các động lực mới từ công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ giá trị cao, nông
nghiệp thông minh, kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh và các ngành có
giá trị gia tăng cao.
Không gian
phát triển được tổ chức theo mô hình 01 trung tâm động lực tăng trưởng chính là
Khu kinh tế Đông Nam; 02 cực tăng trưởng gồm khu vực đô thị Vinh gắn với Cửa Lò
và khu vực Hoàng Mai - Đông Hồi gắn với vùng Thái Hòa, Nghĩa Đàn; 03 vùng không
gian phát triển gồm đồng bằng, ven biển, trung du và miền núi phía Tây; 04 trụ
cột gồm công nghiệp, thương mại, nông nghiệp và kinh tế biển.
Tỉnh xác
định 05 hành lang kinh tế gồm hành lang kinh tế biển, đường Hồ Chí Minh, Quốc
lộ 7A, Quốc lộ 48A và cao tốc Vinh - Thanh Thủy; 06 vùng đô thị động lực gồm Vinh,
Hoàng Mai, Thái Hòa, Diễn Châu, Đô Lương và Trà Lân.
Chương trình
đặt nhiệm vụ nghiên cứu, định hướng thành lập Khu kinh tế đặc biệt tại Nghệ An
trên cơ sở phát huy tiềm năng, lợi thế của Khu kinh tế Đông Nam, Cảng nước sâu
Cửa Lò, hệ thống khu công nghiệp và các không gian phát triển liên quan; gắn
với logistics, công nghiệp công nghệ cao, đô thị, dịch vụ hiện đại và các ngành
có lợi thế.
Công nghiệp
phát triển theo hướng hiện đại, xanh, bền vững, lấy chế biến, chế tạo làm trụ
cột; ưu tiên điện tử, công nghệ thông tin, dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo, cơ khí
chế tạo, tự động hóa, công nghiệp hỗ trợ, chế biến sâu nông, lâm, thủy sản,
năng lượng sạch, vật liệu mới và công nghiệp biển.
Dịch vụ
hướng tới xây dựng Nghệ An thành trung tâm vùng Bắc Trung Bộ về thương mại,
logistics, du lịch, y tế, giáo dục - đào tạo, khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo. Nông, lâm, thủy sản chuyển mạnh từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang
phát triển kinh tế nông nghiệp; đẩy mạnh nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ,
tuần hoàn, chế biến sâu và liên kết chuỗi giá trị.
Kinh tế biển
phát triển theo hướng xanh, hiện đại, thông minh, bền vững, gắn với bảo vệ tài
nguyên, môi trường, hệ sinh thái biển và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tỉnh tập
trung phát triển công nghiệp ven biển, cảng biển, vận tải biển, logistics, thủy
sản hiện đại, du lịch biển chất lượng cao, đô thị biển, năng lượng tái tạo,
năng lượng mới và kinh tế tuần hoàn ven biển.
Khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo được xác định là lực lượng sản xuất trực tiếp và
động lực chủ yếu của tăng trưởng; dữ liệu là tư liệu sản xuất mới và tài nguyên
chiến lược. Tỉnh tập trung phát triển doanh nghiệp dẫn dắt, doanh nghiệp đầu
chuỗi và hệ sinh thái công nghiệp có năng lực cạnh tranh cao; thúc đẩy liên kết
giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và trung tâm đổi mới sáng
tạo.
Hạ tầng phát
triển đồng bộ, hiện đại, ưu tiên các công trình có tính kết nối, lan tỏa lớn
như đường bộ cao tốc, đường sắt tốc độ cao đoạn qua Nghệ An, Cảng hàng không
quốc tế Vinh, Cảng nước sâu Cửa Lò, cụm cảng Đông Hồi, hạ tầng khu kinh tế, khu
công nghiệp, logistics, thủy lợi và phòng chống thiên tai; đẩy mạnh hạ tầng số,
dữ liệu, viễn thông, khoa học - công nghệ và đô thị thông minh.
Phát triển xã hội, văn hóa, con người
và nguồn nhân lực
Tỉnh xây
dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, có khả năng thích ứng và phục
hồi; bảo đảm an sinh xã hội, tiến bộ, công bằng xã hội, nhất là đối với người
nghèo, người có công, đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng yếu thế.
Hệ thống y
tế phát triển hiện đại, thông minh, toàn diện, chất lượng, bền vững; chuyển trọng
tâm từ khám, chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh, quản lý và chăm sóc sức khỏe
toàn diện, hướng tới trở thành trung tâm y tế kỹ thuật chuyên sâu của khu vực
Bắc Trung Bộ.
Giáo dục
được đổi mới toàn diện, lấy người học làm trung tâm, hướng tới thực học, thực
nghiệp, phát triển năng lực sáng tạo, tư duy phản biện, kỹ năng số và tinh thần
khởi nghiệp. Tỉnh chú trọng chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý, cơ sở
vật chất; xây dựng xã hội học tập, thúc đẩy học tập suốt đời, bình dân học vụ
số và tri thức hóa nông dân.
Nguồn nhân
lực chất lượng cao được tập trung phát triển, chú trọng kỹ năng số, năng lực
thực hành, sáng tạo và khả năng học tập suốt đời; nghiên cứu chính sách đào
tạo, thu hút nhân lực chất lượng cao, tạo môi trường làm việc năng động, sáng
tạo.
Về văn hóa,
Nghệ An xây dựng và phát triển văn hóa, con người toàn diện, trở thành sức mạnh
mềm, nguồn lực nội sinh của phát triển; phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế
sáng tạo và văn hóa số.
Bảo vệ môi trường, củng cố quốc
phòng, an ninh, đẩy mạnh đối ngoại
Tỉnh xác
định quản trị tài nguyên, môi trường là trụ cột của phát triển bền vững; thúc
đẩy lối sống xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi xanh, tham gia hiệu quả thị
trường tín chỉ carbon và thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 theo
lộ trình phù hợp.
Tăng cường
quản lý, cải tạo, phục hồi các hệ sinh thái; kiểm soát nguồn xả thải, chất thải
rắn; bảo vệ tài nguyên nước, rừng, thiên nhiên và đa dạng sinh học. Công tác
phòng, chống thiên tai, dịch bệnh và thích ứng biến đổi khí hậu chuyển sang
quản trị rủi ro chủ động, phòng ngừa từ sớm, từ xa.
Về quốc
phòng - an ninh, tỉnh xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại, gắn
với thế trận an ninh nhân dân và thế trận lòng dân; kết hợp phát triển kinh tế
- xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh; nâng cao năng lực bảo vệ
biên giới, biển, không gian mạng. Chủ động phòng ngừa, phát hiện, xử lý các
nguy cơ, thách thức an ninh; đấu tranh với các loại tội phạm, tiếp tục xây
dựng, nhân rộng mô hình xã, phường không ma túy, nghiên cứu xây dựng xã, phường
không tội phạm.
Về đối
ngoại, Nghệ An xây dựng nền đối ngoại toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp; tiếp
tục thúc đẩy đối ngoại biên giới, duy trì đường biên giới hòa bình, hữu nghị,
an ninh, hợp tác và phát triển với các tỉnh của Lào.
Ngoại giao
kinh tế là trọng tâm, gắn hoạt động đối ngoại với thu hút đầu tư, chuyển giao
công nghệ; tăng cường quảng bá đầu tư, thương mại, du lịch, tiềm năng phát
triển và khả năng tham gia chuỗi cung ứng của tỉnh; đa dạng hóa đối tác, thị
trường, chuỗi cung ứng và hệ sinh thái công nghệ.
PQ (tổng hợp)