Triển khai thực hiện điều chỉnh Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050
Thực hiện Quyết định số
363/QĐ-BCT ngày 28/02/2026 của Bộ Công thương phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc
gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, tại Công văn số 2244/UBND-CN ngày 10/3/2026, UBND tỉnh giao các cơ quan, đơn vị, địa phương
chủ động nghiên cứu và triển khai thực hiện các nội dung quy định tại Quyết
định trên. Đồng thời giao
Sở Công Thương chịu trách nhiệm nghiên cứu Quyết định số 363/QĐ-BCT để hướng
dẫn các cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức thực hiện; tham mưu UBND tỉnh thực
hiện đảm bảo kịp thời, đúng quy định.
Theo đó, tại Quyết định số 363/QĐ-BCT, Bộ Công thương phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể về
năng lượng quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 với các mục tiêu cụ thể gồm: Cung cấp đủ nhu cầu năng
lượng trong nước, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội với mức tăng
trưởng GDP bình quân tối thiểu 10%/năm trong giai đoạn 2026 -2030. Tổng nhu cầu
năng lượng cuối cùng đạt khoảng 120 - 130 triệu tấn dầu quy đổi vào năm 2030,
định hướng đạt khoảng 175 - 200 triệu tấn dầu quy đổi đến năm 2050. Tổng cung
cấp năng lượng sơ cấp đạt khoảng 150 - 170 triệu tấn dầu quy đổi vào năm 2030,
định hướng đạt khoảng 210 - 250 triệu tấn dầu quy đổi đến năm 2050.
Phấn đấu đạt tổng mức dự trữ xăng dầu cả nước (bao gồm cả dầu thô và sản
phẩm) lên khoảng 90 ngày nhập ròng vào năm 2030. Phát triển sản xuất năng lượng
mới phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Phấn đấu đến năm 2030, quy mô công suất sản xuất hydrogen xanh khoảng 100
- 200 nghìn tấn/năm. Định hướng đến năm 2050 quy mô công suất sản xuất hydrogen
xanh khoảng 10 - 20 triệu tấn/năm.
Để đạt được mục tiêu trên, Bộ Công thương đề ra các giải pháp gồm: Phát
triển thị trường năng lượng cạnh tranh, đa dạng hóa sở hữu và phương thức kinh
doanh, hướng tới thỏa mãn tốt nhất lợi ích người tiêu dùng. Thúc đẩy nhanh việc
xóa bao cấp, tiến đến xóa bỏ hoàn toàn việc thực hiện chính sách xã hội thông
qua giá năng lượng. Xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi đặc biệt để thu hút các
tập đoàn dầu khí quốc tế lớn, có tiềm lực tài chính và công nghệ tham gia vào
các khu vực nước sâu, xa bờ, vùng nhạy cảm.
Đồng thời, tăng cường hợp tác quốc tế, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) và nguồn vốn xã hội hóa trên cơ sở hài hòa lợi ích Nhà nước, doanh
nghiệp và nhà đầu tư. Áp dụng các công nghệ tiên tiến, tự động hóa, trí tuệ
nhân tạo (AI) và học máy (ML) trong nghiên cứu địa chất, địa vật lý và đánh giá
tài nguyên dầu khí. Ứng dụng thành tựu của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 để
nâng cao hiệu quả sử dụng và tiết kiệm năng lượng, đẩy mạnh hiệu quả kinh doanh
năng lượng. Bảo đảm phát triển năng lượng theo hướng tăng trưởng xanh và bền
vững, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Cùng với đó, thực hiện lộ trình chuyển đổi nhiên liệu khí sang nhiên liệu
mới hydrogen khi công nghệ được thương mại hóa và giá thành phù hợp. Phát triển
đồng bộ hệ thống hạ tầng, dịch vụ và tái chế; khuyến khích phát triển các nguồn
năng lượng mới và tái tạo. Ưu tiên tận dụng tối đa hạ tầng dầu khí sẵn có để
phát triển năng lượng mới nhằm tiết kiệm chi phí đầu tư và nâng cao hiệu quả
kinh tế…
Kim Oanh (T/h)