Triển khai Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật An ninh mạng
UBND tỉnh vừa ban
hành Công văn số 11022/UBND-NC ngày 26/8/2026 về việc triển khai thi hành Nghị
định số 333/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số
điều và biện pháp thi hành Luật An ninh mạng.
Theo đó, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Bùi Thanh An
giao các Sở, ban, ngành cấp tỉnh,
UBND các xã, phường căn cứ Nghị định số 333/2026/NĐ-CP để triển khai thi hành
theo chức năng, nhiệm vụ.
Đồng thời,
giao Công an tỉnh chủ trì, phối hợp với Sở, ngành có liên quan nghiên cứu, tham
mưu UBND tỉnh chỉ đạo thực hiện theo trách nhiệm, thẩm quyền quy định tại Nghị
định trên.
Nghị định số 333/2026/NĐ-CP gồm 6 chương, 32 điều quy định các
nội dung gồm: Nội
dung, trình tự, thủ tục, thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ an ninh mạng; thẩm định an ninh mạng; đánh giá
điều kiện an ninh mạng; kiểm tra an ninh mạng; giám sát an ninh mạng; ứng phó,
khắc phục sự cố an ninh mạng; đấu tranh bảo vệ an ninh mạng; sử dụng mật mã để
bảo vệ thông tin mạng; yêu cầu xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin
sai sự thật, tin giả trên không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an
toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
Thu thập dữ liệu điện tử liên quan đến hoạt động xâm phạm an
ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan,
tổ chức, cá nhân trên không gian mạng; đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc yêu cầu
ngừng hoạt động của hệ thống thông tin, thu hồi tên miền theo quy định của pháp
luật…
Nghị định này quy định các biện pháp thi hành cơ chế quản lý
định danh địa chỉ IP đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông,
Internet.
Doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài khi cung
cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet và các dịch vụ gia tăng trên
không gian mạng tại Việt Nam phải thực hiện các hoạt động bảo đảm an ninh thông
tin mạng theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Hoạt động xác thực, bảo vệ thông tin và tài khoản người
sử dụng dịch vụ bao gồm: Thực hiện xác thực thông tin người sử dụng tại
thời điểm đăng ký tài khoản số theo quy định của pháp luật. Thực hiện xác thực
tài khoản bằng số điện thoại di động tại Việt Nam; trường hợp người sử dụng
không có số điện thoại di động tại Việt Nam thì thực hiện xác thực bằng số định
danh cá nhân hoặc phương thức định danh điện tử hợp pháp khác theo quy định của
pháp luật về định danh và xác thực điện tử.
Trường hợp người sử dụng dịch vụ dùng tính năng phát trực
tiếp (livestream) nhằm mục đích thương mại thì phải thực hiện xác thực tài
khoản bằng số định danh cá nhân theo quy định của pháp luật.
Áp dụng các biện pháp quản lý nhà nước, kỹ thuật cần thiết
để bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin và tài khoản của người sử dụng; chỉ cho
phép các tài khoản đã được xác thực thực hiện việc đăng tải, chia sẻ thông tin
và sử dụng các tính năng tương tác trên hệ thống.
Hoạt động cung cấp thông tin phục vụ bảo vệ an ninh thông tin
mạng bao gồm: Cung cấp thông tin người sử dụng dịch vụ cho lực lượng chuyên
trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an khi có yêu cầu hợp lệ, căn cứ theo
quy định của pháp luật Việt Nam nhằm phục vụ công tác xác minh, điều tra, xử lý
hành vi vi phạm pháp luật.
Việc yêu cầu và cung cấp thông tin được thực hiện bằng văn
bản, phương tiện điện tử hoặc hình thức khác, bảo đảm xác thực chủ thể yêu cầu
và bảo mật thông tin được cung cấp theo quy định của pháp luật…
Hoạt động ngăn chặn, xử lý thông tin, dịch vụ, ứng dụng
vi phạm pháp luật về an ninh thông tin mạng bao gồm: Hạn chế, ngăn
chặn truy cập, xóa bỏ thông tin, gỡ bỏ dịch vụ, ứng dụng tại Việt Nam đối với
thông tin, dịch vụ, ứng dụng vi phạm pháp luật về an ninh thông tin mạng theo
yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an.
Áp dụng biện pháp quản lý nhà nước, biện pháp kỹ thuật để
hạn chế, tạm ngừng hoặc ngừng cung cấp dịch vụ đối với tổ chức, cá nhân nhiều
lần đăng tải thông tin vi phạm pháp luật về an ninh thông tin mạng theo yêu cầu
của cơ quan có thẩm quyền và phù hợp với quy định của pháp luật.
Hạn chế hiển thị tại Việt Nam hoặc khóa tạm thời tài khoản
cá nhân, trang, nhóm cộng đồng, kênh nội dung được sử dụng để đăng tải thông
tin vi phạm pháp luật về an ninh thông tin mạng trong các trường hợp đây: Trong
thời hạn 30 ngày, đăng tải từ 03 lần trở lên thông tin vi phạm pháp luật về an
ninh thông tin mạng thì bị hạn chế hiển thị tại Việt Nam hoặc khóa tạm thời với
thời hạn tối đa 60 ngày, căn cứ tính chất, mức độ vi phạm.
Trong thời hạn 90 ngày, đăng tải từ 10 lần trở lên thông tin
vi phạm pháp luật về an ninh thông tin mạng thì bị hạn chế hiển thị tại Việt
Nam hoặc khóa tạm thời với thời hạn tối đa 180 ngày, căn cứ tính chất, mức độ
vi phạm.
Hạn chế hiển thị vô thời hạn tại Việt Nam hoặc khóa tài
khoản vô thời hạn đối với tài khoản cá nhân, trang, nhóm cộng đồng, kênh nội
dung được sử dụng để thực hiện, tiếp tục thực hiện, phát tán, tổ chức, điều
hành hoặc hỗ trợ thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng trong các trường
hợp sau: Đăng tải, phát tán thông tin xâm phạm an ninh quốc gia của nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đã bị khóa tạm thời từ 03 lần trở lên theo yêu cầu của cơ
quan có thẩm quyền mà tiếp tục được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp
luật về an ninh mạng.
Có căn cứ xác định tài khoản cá nhân, trang, nhóm cộng đồng,
kênh nội dung tiếp tục được sử dụng làm công cụ, phương tiện thực hiện hành vi
vi phạm pháp luật về an ninh mạng và việc áp dụng biện pháp khóa tài khoản vô
thời hạn là cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm.
Tài khoản bị áp dụng biện pháp khóa tài khoản vô thời hạn
được xem xét khôi phục trong các trường hợp sau đây: Không còn căn cứ áp dụng
biện pháp; có nhầm lẫn trong quá trình xác minh, xử lý; xuất hiện tình tiết mới
làm thay đổi căn cứ áp dụng biện pháp; cơ quan có thẩm quyền xác định tài khoản
không được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng…
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 19/8/2026.
PT (Tổng hợp)