Triển khai thực hiện Đề án “Xây dựng Trung tâm dữ liệu, quản lý, giám sát, xử lý vi phạm và điều hành giao thông giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2050” theo quy định
Tại Công văn số 2906/UBND-NC ngày
25/3/2026, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hoàng Phú Hiền giao Công an tỉnh chủ trì,
phối hợp với Sở Xây dựng, Thường trực Ban An toàn giao thông tỉnh và các đơn vị
có liên quan triển khai thực hiện Quyết định số 456/QĐ-TTg ngày 20/3/2026 của
Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng Trung tâm dữ liệu, quản
lý, giám sát, xử lý vi phạm và điều hành giao thông giai đoạn 2026-2030, tầm
nhìn đến năm 2050” theo quy định.
Theo Quyết định số 456/QĐ-TTg ngày
20/3/2026, Chính phủ chủ trương xây dựng trung tâm dữ liệu, quản lý, giám sát,
xử lý vi phạm và điều hành giao thông theo mô hình thống nhất trên phạm vi toàn
quốc; vận hành trên nền tảng dữ liệu dùng chung; từng bước ứng dụng trí tuệ
nhân tạo để hỗ trợ phân tích, dự báo và điều hành. Qua đó, đổi mới phương thức
quản lý giao thông từ mô hình chủ yếu xử lý vi phạm sang mô hình điều hành chủ
động dựa trên dữ liệu; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước,
bảo đảm trật tự an toàn giao thông và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Đề án phấn đấu đến năm 2028 hình thành và đưa vào vận hành,
khai thác thống nhất theo kiến trúc, tiêu chuẩn và nền tảng dùng chung hệ
thống Trung tâm 02 cấp thống nhất trên phạm vi toàn quốc, gồm: Trung
tâm cấp 1 ở cấp quốc gia do Bộ Công an (Cục Cảnh sát giao thông) chủ trì vận
hành, thực hiện chức năng tổng hợp, điều phối liên thông toàn quốc; Trung tâm
cấp 2 ở tỉnh, thành phố do Công an tỉnh, thành phố (Phòng Cảnh
sát giao thông) tổ chức vận hành theo phân cấp, kết nối liên thông
với Trung tâm cấp 1; bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu liên thông 02 cấp. Chuẩn
hoá và thống nhất dữ liệu giao thông quốc gia với việc hoàn thiện chuẩn dữ liệu,
siêu dữ liệu, cơ chế kiểm soát chất lượng, phân loại và truy vết dữ liệu; bảo đảm
dữ liệu có tính toàn vẹn và giá trị pháp lý phục vụ xử lý vi phạm theo quy
định. Triển khai hệ thống camera giám sát bảo đảm trật tự an toàn giao thông,
an ninh trật tự đạt các yêu cầu tối thiểu... Hoàn thành phát triển và đưa vào
sử dụng các nền tảng, phần mềm ứng dụng dùng chung phục vụ quản lý, giám sát, xử
lý vi phạm và điều hành giao thông trên môi trường số.
Đến năm 2030, mở rộng hệ thống camera
giám sát bảo đảm trật tự an toàn giao thông, an ninh trật tự trên các tuyến cao
tốc, quốc lộ, đường tỉnh, đường đô thị và các tuyến giao thông trọng điểm; từng
bước mở rộng trên đường sắt và đường thuỷ nội địa. Hoàn thiện nền tảng điều
hành giao thông dựa trên dữ liệu và trí tuệ nhân tạo phục vụ phát hiện vi
phạm, phân tích, dự báo và điều phối giao thông theo thời gian thực. Phát triển
và cung cấp dịch vụ giao thông số phục vụ người dân, doanh nghiệp thông qua
thiết bị di động và các nền tảng số theo quy định; góp phần nâng cao chất lượng
dịch vụ công trong lĩnh vực giao thông.
Đến năm 2050, hoàn thiện hệ thống
quản trị giao thông số hiện đại, liên thông toàn quốc, bao phủ toàn bộ các tuyến
đường bộ, đường sắt và đường thuỷ nội địa. Nâng cấp năng lực công nghệ của
Trung tâm cấp 1 và Trung tâm cấp 2 đạt trình độ tiên tiến, tự động hoá cao;
ứng dụng hiệu quả dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong điều hành giao thông. Hình
thành nền quản trị giao thông quốc gia hiện đại, chủ động, có khả năng dự báo, phòng
ngừa rủi ro; góp phần giảm tai nạn giao thông, hạn chế ùn tắc và nâng cao
mức độ an toàn, thông suốt của hệ thống giao thông.
Đề án được triển khai trên phạm vi
cả nước từ năm 2026 đến năm 2050, chia thành 3 giai đoạn. Trong đó, giai đoạn
2026-2028 tập trung xây dựng nền tảng, hình thành hệ thống và đưa vào vận hành
bước đầu. Giai đoạn 2029-2030 mở rộng phạm vi triển khai, nâng cao năng lực
điều hành dựa trên dữ liệu. Tổng kinh phí dự kiến cho giai đoạn 2026-2030 gần
14.900 tỷ đồng, không bao gồm kinh phí vận hành, bảo trì, bảo dưỡng và duy trì
hoạt động thường xuyên của hệ thống.
Giai đoạn 2031-2050 hướng tới phát
triển, hiện đại hoá và hoàn thiện hệ thống quản trị giao thông số. Kinh phí cho
giai đoạn này được căn cứ kết quả thực hiện giai đoạn 2026-2030 và nhu cầu thực
tế.
N.B (tổng hợp)