UBND tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết về phòng, chống thiên tai, biến đổi khí hậu
UBND tỉnh vừa ban hành Kế hoạch số
885/KH-UBND ngày 10/9/2026 thực hiện Nghị quyết số 210/NQ-CP ngày 06/8/2026 của
Chính phủ về Kế hoạch hành động thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư,
Chủ tịch nước tại Thông báo số 117-TB/VPTW ngày 04/7/2026 của Văn phòng Trung
ương Đảng về công tác phòng, chống bão, lũ, thiên tai cực đoan và biến đổi khí
hậu.
Kế hoạch được
ban hành nhằm quán triệt, triển khai nghiêm túc, kịp thời, thống nhất và hiệu
quả các nội dung kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Nghị quyết
số 210/NQ-CP; tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, hành động của các cấp,
ngành, địa phương và toàn xã hội đối với công tác phòng, chống thiên tai trên
địa bàn tỉnh.
UBND tỉnh
yêu cầu xác định công tác phòng, chống thiên tai là một cấu phần của phát triển
bền vững, gắn với bảo đảm an ninh con người, an ninh nguồn nước, an ninh lương
thực, an ninh năng lượng và ổn định xã hội; tích hợp trong các kịch bản điều
hành phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch đầu tư công, hoạt động sản xuất kinh
doanh, thu hút đầu tư, bảo đảm an sinh và bảo vệ đời sống nhân dân. Đồng thời,
chuyển mạnh từ ứng phó bị động sang quản trị rủi ro chủ động; từ xử lý hậu quả
sang phòng ngừa từ sớm, từ xa; từ chỉ đạo theo mùa vụ sang chuẩn bị thường
xuyên; từ cách làm chủ yếu dựa trên kinh nghiệm sang dựa trên dữ liệu, khoa
học, công nghệ, pháp luật, kỷ luật quy hoạch và trách nhiệm người đứng đầu.
Đồng thời, UBND
tỉnh yêu cầu bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất từ cấp tỉnh đến
cấp xã; tuyệt đối không chủ quan với bất kỳ kịch bản thiên tai nào, phải chuẩn
bị cho tình huống xấu hơn, nhanh hơn, rộng hơn và phức tạp hơn.
Bảo vệ tính
mạng nhân dân là yêu cầu cao nhất, trong đó ưu tiên người già, trẻ em, phụ nữ
mang thai, người khuyết tật, người bệnh, hộ nghèo, hộ neo đơn. Công tác phòng
ngừa phải đi trước một bước, được lồng ghép vào quy hoạch, đầu tư, tiêu chuẩn
xây dựng, bảo vệ rừng, hành lang thoát lũ, an toàn hồ đập, bố trí dân cư, quản
lý sông suối, kiểm soát khai thác cát, nước ngầm và thoát nước đô thị. Tỉnh
cũng yêu cầu tăng cường cảnh báo sớm, dữ liệu số, kỹ năng cộng đồng; lấy cơ sở
làm nền tảng, phù hợp thực tế từng địa bàn; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và gắn
trách nhiệm người đứng đầu nếu buông lỏng quản lý, để xảy ra vi phạm, thiệt
hại.
Các Sở, ban,
ngành, địa phương phải phối hợp chặt chẽ, đồng bộ; gắn thực hiện Kế hoạch với
Kế hoạch số 80/KH-UBND ngày 3/2/2026 về thực hiện Kết luận số 213-KL/TW ngày
21/11/2025 của Ban Bí thư, Chương trình hành động số 10-CT/TU ngày 2/1/2026 của
Tỉnh ủy và các kế hoạch, chương trình của UBND tỉnh về phòng, chống thiên tai.
Nhiều nhiệm vụ trọng tâm được triển
khai trong năm 2026
Từ nay đến
hết năm 2026, UBND tỉnh tiếp tục kiểm tra các địa bàn xung yếu, khu vực có nguy
cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở, ngập lụt; UBND cấp xã phải nắm chắc từng hộ dân,
địa bàn và khu vực có nguy cơ để chủ động ứng phó.
Các địa
phương phải xây dựng phương án sơ tán khi có tình huống khẩn cấp, xác định đối
tượng ưu tiên, lộ trình, phương tiện, lực lượng hỗ trợ và bảo đảm nước sạch,
thuốc men, điện, vệ sinh môi trường, an ninh trật tự tại nơi trú tránh. Đồng
thời, xây dựng phương án duy trì hoạt động và phục hồi nhanh các lĩnh vực trọng
yếu khi xảy ra thiên tai như khu công nghiệp, khu kinh tế, cảng biển, sân bay,
logistics, du lịch, sản xuất nông nghiệp, thủy sản, năng lượng, điện, nước,
viễn thông, giao thông; không để sản xuất, kinh doanh đình trệ kéo dài.
UBND tỉnh
yêu cầu rà soát, cập nhật phương án ứng phó các tình huống hạn hán, xâm nhập
mặn, thiếu nước, cháy rừng, bão mạnh, mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất, ngập úng đô
thị, sự cố hồ đập, đê điều trong những tháng cuối năm 2026; cập nhật kịch bản
ứng phó với thiên tai bất thường, vượt lịch sử như đã xảy ra năm 2025.
Chủ tịch
UBND cấp xã chịu trách nhiệm phê duyệt, triển khai phương án ứng phó tại địa
phương, bảo đảm chi tiết, khả thi, phù hợp từng vùng, địa bàn và khu dân cư có
nguy cơ cao. Các cơ quan chuyên môn phải phối hợp với cơ quan quản lý đường bộ
trong phân luồng giao thông, huy động lực lượng, phương tiện, bố trí bãi đổ
đất, đá, giải phóng mặt bằng và xử lý vướng mắc khi khắc phục sự cố giao thông
do thiên tai.
Tổ chức lại
phương châm “bốn tại chỗ” trên cơ sở rà soát lực lượng phòng thủ dân sự tại chỗ
ở cấp xã, thôn, bản, nhất là thanh niên và người có kỹ năng vận hành máy móc,
phương tiện. Thiết lập cơ chế phối hợp liên xã, liên địa bàn theo lưu vực sông,
vùng hạ du hồ chứa, ven biển, khu vực có nguy cơ sạt lở, ngập sâu, chia cắt;
xác định xã trung tâm, điểm tập kết lực lượng, vật tư, phương tiện, tuyến sơ
tán, nơi trú tránh và phương án chi viện giữa các xã. Khi tình huống vượt khả
năng cấp xã, phải có lực lượng cơ động cấp tỉnh, quân đội, công an chi viện.
Các công
trình xung yếu và hạ tầng thiết yếu phải được thường xuyên kiểm tra, đặc biệt
là đê điều, hồ đập, công trình phòng, chống thiên tai; sân bay, đường sắt,
đường cao tốc, quốc lộ, tỉnh lộ, đường độc đạo liên xã, liên thôn, bến cảng
quốc gia, lưới điện cao thế từ 66 kV trở lên, trường học, bệnh viện, trụ sở cơ
quan, khu kinh tế, khu công nghiệp, công trình thủy lợi, khu neo đậu tàu
thuyền, hệ thống viễn thông, cấp nước và các điểm sạt lở bờ sông, bờ biển. Trên
cơ sở kiểm tra phải có biện pháp khẩn cấp, cảnh báo, hạn chế đi lại, bố trí lực
lượng, vật tư và phương án sơ tán dân ở khu vực có nguy cơ.
Bên cạnh đó,
nâng cao chất lượng cảnh báo, kết hợp nhiều kênh thông tin như chính quyền,
đoàn thể, truyền hình, phát thanh, loa truyền thanh, tin nhắn, mạng xã hội. Khi
mất điện hoặc không có sóng điện thoại, phải có phương án thay thế bằng loa
truyền thanh, loa lưu động, bộ đàm hoặc lực lượng trực tiếp đến từng hộ dân;
nội dung cảnh báo phải ngắn gọn, dễ hiểu và phù hợp từng địa bàn.
Các nguồn
lực từ ngân sách nhà nước, Quỹ phòng, chống thiên tai, doanh nghiệp, xã hội,
lực lượng vũ trang, tổ chức đoàn thể và các nguồn tài chính hợp pháp khác được
huy động, điều phối công khai, minh bạch. Ưu tiên cho phòng ngừa, cảnh báo sớm,
xử lý hạ tầng xung yếu, di dời dân cư khỏi nơi nguy hiểm, khơi thông dòng dẫn,
giải tỏa điểm gây tắc nghẽn dòng chảy và trang bị nước sạch, vật tư y tế,
phương tiện cứu hộ, cứu nạn. Tỉnh yêu cầu kiểm tra thực tế tại các địa bàn rủi
ro cao về danh sách hộ dân, nơi trú tránh, kho vật tư, lực lượng xung kích,
phương án dự phòng mất điện, liên lạc, bảo vệ trường học, bệnh viện, khu công
nghiệp, vùng sản xuất và dự trữ hàng hóa thiết yếu.
Định hướng giai đoạn 2026-2030
Giai đoạn
2026-2030, Nghệ An sẽ cụ thể hóa, nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định pháp
luật về phòng, chống thiên tai, phòng thủ dân sự, tài nguyên nước, thủy lợi, đê
điều, khí tượng thủy văn, quy hoạch, huy động nguồn lực, đầu tư công, ngân
sách, bảo hiểm, cứu hộ, cứu nạn và huy động lực lượng, tài sản phù hợp thực
tiễn của tỉnh.
Tăng cường
đầu tư công cho phòng ngừa, giảm rủi ro thiên tai; phân bổ vốn có trọng tâm,
trọng điểm, tránh dàn trải, đầu tư dứt điểm, đồng bộ các công trình, dự án
trọng điểm, cấp bách. Ưu tiên hệ thống hồ đập, đê điều, tiêu thoát nước, phòng,
chống sạt lở, di dời, bố trí dân cư an toàn; hoàn thiện hệ thống cảnh báo sớm,
cơ sở dữ liệu số và hạ tầng thiết yếu về y tế, giáo dục, nước sạch, sinh kế bền
vững.
Yêu cầu
phòng, chống thiên tai cực đoan và thích ứng biến đổi khí hậu được tích hợp vào
các quy hoạch, chương trình, dự án đầu tư và quy hoạch, kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội địa phương. Tổ chức di dời công trình, nhà ở nằm trong phạm vi
bảo vệ đê điều, tại bãi sông, bãi nổi hoặc cù lao có nguy cơ sạt lở, không phù
hợp quy hoạch.
Tại Kế hoạch này, UBND tỉnh đã giao nhiệm vụ cụ thể cho Sở,
ngành liên quan và các địa phương; đồng thời yêu các cơ quan, đơn vị căn cứ
chức năng, nhiệm vụ được giao chủ động tổ chức thực hiện, chịu trách nhiệm về
tiến độ, chất lượng và kết quả thực hiện nhiệm vụ được phân công.
Cụ thể, các cơ quan, đơn vị, địa phương chủ động phối hợp,
không chờ hướng dẫn khi có tình huống thiên tai; thực hiện nghiêm cơ chế phối
hợp, huy động lực lượng, phương tiện và thông tin theo phương án đã được phê
duyệt. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc hoặc nội dung phát
sinh cần điều chỉnh, kịp thời báo cáo Sở Nông nghiệp và Môi trường để tổng hợp,
tham mưu UBND tỉnh xem xét, chỉ đạo.
UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan đầu
mối theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện; tổng hợp tình hình,
kết quả, khó khăn, vướng mắc và tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo, xử lý. Tổng hợp đề
xuất kinh phí thực hiện Kế hoạch của các cơ quan, đơn vị, địa phương (nếu có),
gửi Sở Tài chính tham mưu cấp có thẩm quyền bố trí kinh phí thực hiện theo quy
định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
PQ (Tổng hợp)