Triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường
UBND
tỉnh vừa ban hành Văn bản số 9788/UBND-NN ngày 04/8/2026 giao Sở Nông nghiệp và
Môi trường chủ trì, phối hợp với các Sở, ban, ngành và địa phương, đơn vị liên
quan triển khai thực hiện Quyết định số 1466/QĐ-TTg ngày 31/7/2026 của Thủ
tướng Chính phủ về phê duyệt Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành
nông nghiệp và môi trường; đồng thời tham mưu UBND tỉnh triển khai thực hiện
theo đúng quy định.
Theo Quyết định số 1466/QĐ-TTg, mục tiêu Kế hoạch hướng tới phát triển
ngành công nghiệp sinh học có vai trò nền tảng quan trọng và dẫn dắt đổi mới mô
hình tăng trưởng nông nghiệp và môi trường dựa trên khoa học, công nghệ, đổi
mới sáng tạo và chuyển đổi số; làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược,
phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp và sản phẩm công nghệ chiến lược, quy mô
công nghiệp, có sức cạnh tranh cao phục vụ phát triển nông nghiệp xanh, tuần
hoàn, bền vững, góp phần quan trọng vào tăng trưởng của ngành, tăng trưởng của
nền kinh tế “hai con số”, bảo đảm tự chủ về công nghệ trong lĩnh vực nông
nghiệp và môi trường, quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế.
Trong giai đoạn 2026 – 2030, triển khai nghiên cứu, phát triển, ứng dụng
công nghệ chiến lược (công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến, công nghệ di
truyền, công nghệ tế bào, chọn giống chính xác, chọn giống theo hệ gen,...),
sản phẩm công nghệ chiến lược (giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản thế hệ mới;
vắc-xin, bộ sinh phẩm (KIT) chẩn đoán, chế phẩm sinh học thế hệ mới, phân bón
hữu cơ vi sinh, thuốc sinh học, chế phẩm bảo quản nông sản, xử lý môi trường
dùng trong chăn nuôi, thú y, thủy sản, trồng trọt và bảo vệ thực vật); công
nghệ bảo quản, chế biến sâu đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu, phục vụ sản xuất
trồng trọt và bảo vệ thực vật, chăn nuôi và thú y, thủy sản và kiểm ngư, lâm
nghiệp và kiểm lâm, bảo tồn đa dạng sinh học, dần thay thế các sản phẩm nguồn
gốc hóa học, sản phẩm nhập khẩu.
Cùng với đó, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ trình độ làm chủ
công nghệ, tiếp nhận, giải mã, ứng dụng và chuyển giao công nghệ mới, công nghệ
tiên tiến, công nghệ chiến lược ở quy mô công nghiệp, đáp ứng yêu cầu thực
tiễn, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế.
Đồng thời xây dựng ít nhất 05 phòng thí nghiệm trọng điểm và 05 phòng thí
nghiệm chuyên ngành có cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, đạt chuẩn quốc
tế, đủ mạnh đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh
học quy mô công nghiệp. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế chính sách thúc đẩy đột phá
phát triển nghiên cứu khoa học, phát triển công nghiệp sinh học; tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp trong nước sản xuất, thương mại các sản phẩm công nghệ
sinh học quy mô công nghiệp…
Đến giai đoạn 2031-2035 và tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam hướng tới làm
chủ các công nghệ sinh học thế hệ mới, công nghệ chỉnh sửa gen, hình thành
ngành kinh tế - kỹ thuật có khả năng cung ứng sản phẩm cho thị trường trong
nước và xuất khẩu; đưa công nghiệp sinh học trở thành lĩnh vực quan trọng,
thuộc nhóm dẫn đầu khu vực châu Á. Công nghiệp sinh học trở thành ngành
kinh tế - kỹ thuật quan trọng của lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; doanh
nghiệp công nghiệp sinh học được hình thành thông qua Kế hoạch tăng 70% về quy
mô đầu tư và quy mô tăng trưởng; số lượng sản phẩm công nghệ sinh học được tạo
ra từ Kế hoạch thay thế tối thiểu 60% sản phẩm nhập khẩu so với các sản phẩm
cùng loại; đóng góp vào 15% giá trị gia tăng của ngành công nghiệp sinh học.
Để đạt mục tiêu trên, Kế hoạch đề ra các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm, gồm: Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ tăng trưởng ngành nông nghiệp và môi trường; Xây dựng và phát triển tiềm lực công nghiệp sinh học; Xây dựng và phát triển tiềm lực công nghiệp sinh học; Xây dựng và phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường; Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường; Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghiệp sinh học; Truyền thông nâng cao nhận thức về công nghiệp sinh học.
Trong đó, Kế hoạch xác định nhiệm vụ trọng tâm trong các lĩnh vực trồng
trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi, thú y, thủy sản và bảo quản, chế biến sau thu
hoạch. Cụ thể, đối với lĩnh vực trồng trọt và lâm nghiệp, sẽ tập trung nghiên
cứu, ứng dụng công nghệ gen, công nghệ tế bào và chỉnh sửa gen để tạo giống cây
trồng có năng suất, chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh, thích ứng với biến đổi
khí hậu; phát triển các chế phẩm sinh học phục vụ sản xuất nông nghiệp an toàn,
hữu cơ; xây dựng cơ sở dữ liệu ADN barcode đối với nguồn gen bản địa nhằm phục
vụ bảo tồn, phát triển và bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho các đặc sản của Việt Nam.
Trong lĩnh vực chăn nuôi, thú y và thủy sản, sẽ ưu tiên nghiên cứu, sản
xuất giống vật nuôi và thủy sản thế hệ mới; phát triển vắc-xin, bộ KIT chẩn
đoán nhanh, chế phẩm sinh học, thuốc thú y sinh học và các công nghệ kiểm soát
dịch bệnh, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của
ngành.
Đối với khâu bảo quản, chế biến, sẽ hướng tới ứng dụng công nghệ sinh học
để nâng cao giá trị gia tăng nông sản, tận dụng phụ phẩm, phát triển các chế
phẩm phục vụ sơ chế, bảo quản đáp ứng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và yêu cầu
xuất khẩu…
Thủ tướng Chỉnh phủ yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương căn cứ nội dung Kế hoạch, thẩm quyền được giao, xây dựng và ban hành
Chương trình, Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học trong lĩnh vực nông
nghiệp và môi trường giai đoạn 2026 - 2035 tầm nhìn đến 2045 trên địa bàn, phù
hợp điều kiện thực tế của địa phương.
H.B (Tổng hợp)