Đề xuất quy định phân cấp quản lý công trình thủy lợi trong phạm vi tỉnh và quy mô thủy lợi nội đồng trên địa bàn tỉnh
Sở Nông nghiệp và Môi trường đang lấy ý kiến của tổ chức, cá nhân góp ý vào dự thảo Quyết định của UBND tỉnh ban hành Quy định phân cấp quản lý công trình thủy lợi trong phạm vi tỉnh và quy mô thủy lợi nội đồng trên địa bàn tỉnh.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, Nghệ An là tỉnh có hệ thống công trình thủy lợi tương đối lớn, đóng vai trò quan trọng trong phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh và phòng, chống thiên tai. Hiện toàn tỉnh có trên 1.061 hồ chứa, 423 đập dâng, khoảng 702 trạm bơm và 02 hệ thống thủy lợi lớn là hệ thống thủy lợi Bắc và Nam Nghệ An.
Hiện trên địa bàn tỉnh có các công trình thủy lợi do các tổ chức UBND cấp xã, HTX quản lý... và 07 Công ty TNHH Thủy lợi, gồm: Công ty TNHH Thủy lợi Bắc, Nam, Tây Bắc, Tây Nam, Thanh Chương, Tân Kỳ, Phủ Quỳ trực tiếp quản lý, khai thác các công trình thủy lợi liên xã, công trình thủy lợi phục vụ trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp xã và các công trình thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng. Tuy nhiên, việc phân định trách nhiệm quản lý giữa các cấp chính quyền, các đơn vị quản lý khai thác công trình thủy lợi và các tổ chức dùng nước cần được rà soát, thống nhất để phù hợp với quy định mới của pháp luật và mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Để đảm bảo thống nhất, hiệu quả trong công tác quản lý công trình thủy lợi, nâng cao trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của cấp xã trong lĩnh vực thủy lợi, bảo đảm an toàn công trình, vận hành linh hoạt, sát thực tế, chủ động trong công tác quản lý, khai thác công trình thủy lợi, tưới tiêu, cấp nước phục vụ các ngành sản xuất, dân sinh, kinh tế - xã hội, môi trường và phòng chống thiên tai đạt hiệu quả cao, việc ban hành Quyết định phân cấp quản lý công trình thủy lợi trong phạm vi tỉnh và quy mô thủy lợi nội đồng trên địa bàn tỉnh là cần thiết và phù hợp với tình hình thực tế.
Theo dự thảo Quyết định, UBND tỉnh quản lý các công trình thủy lợi sau: Hồ chứa nước có dung tích thiết kế toàn bộ từ 500.000 m3 trở lên hoặc hồ có chiều cao đập từ 10 m trở lên; Đập dâng có chiều cao đập từ 10 m trở lên; Trạm bơm có tổng lưu lượng thiết kế từ 12.000m3/h trở lên. Cống tiêu thoát lũ, cống ngăn mặn, giữ ngọt (trừ cống qua đê) có tổng chiều rộng thoát nước từ 10m trở lên. Đối với hệ thống tiêu, thoát nước, tưới tiêu kết hợp: Kênh, mương, rạch, tuynel, xi phông, cầu máng có có lưu lượng từ 20 m3/s trở lên hoặc có chiều rộng đáy kênh từ 10 m trở lên và trên kênh có cống tiêu thoát lũ, cống ngăn mặn, giữ ngọt quy định tại Quyết định này.
UBND tỉnh phân cấp cho UBND cấp xã quản lý các công trình thủy lợi phục vụ tưới, tiêu, cấp nước trên địa bàn, cụ thể: Đối với hồ chứa nước, đập dâng, trạm bơm, cống tiêu thoát lũ, cống ngăn mặn, giữ ngọt, UBND cấp xã quản lý các công trình thủy lợi trên địa bàn trừ các công trình UBND tỉnh quản lý.
Kênh và công trình trên kênh thuộc các công trình thủy lợi đầu mối do UBND cấp xã quản lý.
Kênh tiêu nằm trên phạm vi địa giới hành chính của xã, phường sẽ do UBND xã, phường quản lý, trừ trường hợp do UBND tỉnh quản lý.
UBND tỉnh quyết định điều chỉnh việc phân cấp quản lý công trình quy định một trong các trường hợp sau: Công trình hoàn thành giai đoạn đầu tư xây dựng được phân công, phân cấp quản lý, tùy thuộc vào quy mô của công trình (Trường hợp đáp ứng được năng lực quản lý thì cấp nào đang quản lý công trình thì tiếp tục quản lý công trình đó). Trường hợp các đơn vị khai thác công trình thủy lợi không đáp ứng được năng lực quản lý theo quy định.
Quy mô thủy lợi nội đồng được quy định theo diện tích tưới, tiêu thiết kế của khu vực tưới, tiêu đối với từng vùng địa hình: Khu vực miền núi nhỏ hơn hoặc bằng 50 ha. Việc xác định các xã miền núi thực hiện theo quy định của Chính phủ về phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Khu vực đồng bằng (các xã, phường còn lại): Nhỏ hơn hoặc bằng 200 ha. Trường hợp tổ chức thủy lợi cơ sở đáp ứng điều kiện năng lực, việc mở rộng quy mô thủy lợi nội đồng do UBND tỉnh quyết định.
Trường hợp không xác định được vị trí điểm giao nhận sản phẩm dịch vụ cụ thể thì tổ chức, cá nhân cung cấp và tổ chức, cá nhân sử dụng sản phẩm dịch vụ thủy lợi tự thỏa thuận điểm giao nhận sản phẩm, dịch vụ thủy lợi.
Mời độc giả xem dự thảo Quyết định và tham gia góp ý.
Kim Oanh (T/h)