Nghị định số 63/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định rõ việc giao, nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước.
Nghị
định này quy định biện pháp để hướng dẫn thi hành Luật về thẩm quyền ký
văn bản bí mật nhà nước, văn bản điện tử bí mật nhà nước; việc đăng ký,
quản lý văn bản điện tử bí mật nhà nước; thu hồi văn bản điện tử bí mật
nhà nước; gửi, nhận văn bản điện tử bí mật nhà nước; bàn giao tài liệu,
vật chứa bí mật nhà nước mang ra khỏi nơi lưu giữ phục vụ công tác ở
nước ngoài; các loại mẫu dấu, mẫu giấy tờ sử dụng trong công tác bảo vệ
bí mật nhà nước.
Quy định về vận chuyển, giao, nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước
Trong đó, việc vận chuyển, giao, nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước được quy định cụ thể. Việc vận chuyển tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước (trừ vận chuyển qua dịch vụ bưu chính) được quy định như sau:
-
Tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước được chứa, đựng trong thiết bị và
bảo quản bằng vật liệu phù hợp, bảo đảm không bị hư hỏng trong quá trình
vận chuyển;
- Tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước được vận chuyển
bằng phương tiện, thiết bị bảo đảm an toàn do người đứng đầu cơ quan, tổ
chức quản lý bí mật nhà nước quy định;
- Người được giao nhiệm vụ vận chuyển có trách nhiệm bảo vệ tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước trong suốt quá trình vận chuyển.
Việc giao tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đi được quy định như sau:
-
Trước khi giao tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đi phải đăng ký vào
"Sổ đăng ký bí mật nhà nước đi" hoặc bằng Hệ thống quản lý văn bản điện
tử bí mật nhà nước. Tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đi độ "Tuyệt mật"
không được ghi trích yếu;
- Tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đi
phải làm bì hoặc đóng gói riêng. Giấy làm bì phải dùng loại giấy dai,
bền, khó thấm nước, không nhìn thấu qua được; hồ dán phải dính, khó bóc;
ngoài bì đóng dấu chữ "A" hoặc "B" hoặc "C" tương ứng với độ mật cao
nhất của tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước bên trong.
Trường hợp
tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đi gửi đích danh người có trách nhiệm
giải quyết phải đóng dấu "Chỉ người có tên mới được bóc bì".
Việc nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đến được quy định như sau:
-
Sau khi nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đến phải đăng ký vào
"Sổ đăng ký bí mật nhà nước đến" hoặc bằng Hệ thống quản lý văn bản điện
tử bí mật nhà nước. Tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đến độ "Tuyệt
mật" không được ghi trích yếu và chỉ được mở bì khi người đứng đầu hoặc
cấp phó của người đứng đầu của cơ quan, tổ chức tiếp nhận bí mật nhà
nước cho phép;
- Trường hợp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đến
mà phong bì có dấu "Chỉ người có tên mới được bóc bì", người nhận vào
sổ theo ký hiệu ngoài bì, không được mở bì và phải chuyển đến người có
tên trên phong bì. Nếu người có tên trên phong bì đi vắng và trên phong
bì có thêm dấu "Hỏa tốc" thì chuyển đến người đứng đầu hoặc cấp phó của
người đứng đầu cơ quan, tổ chức giải quyết;
- Trường hợp tài liệu,
vật chứa bí mật nhà nước được gửi đến mà không thực hiện đúng quy định
về bảo vệ bí mật nhà nước thì chuyển đến người đứng đầu hoặc cấp phó của
người đứng đầu cơ quan, tổ chức nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước
hoặc người có tên trên phong bì (đối với trường hợp gửi đích danh) giải
quyết, đồng thời phải thông báo nơi gửi biết để có biện pháp khắc phục;
-
Trường hợp phát hiện tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước gửi đến có dấu
hiệu bóc, mở bì hoặc bị tráo đổi, mất, hư hỏng thì bên giao và bên nhận
phải lập biên bản ghi nhận sự việc, báo cáo người có thẩm quyền của bên
giao, bên nhận biết; đồng thời, thông báo cho bên gửi về việc tài liệu,
vật chứa bí mật nhà nước gửi đến có dấu hiệu bóc, mở bì hoặc bị tráo
đổi, mất, hư hỏng để phối hợp giải quyết.
Việc giao, nhận tài
liệu, vật chứa bí mật nhà nước (trừ trường hợp gửi, nhận văn bản điện tử
bí mật nhà nước) được quy định như sau:
- Trường hợp giao,
nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đi được thực hiện tại "Sổ đăng
ký bí mật nhà nước đi" hoặc "Sổ chuyển giao bí mật nhà nước";
-
Trường hợp giao, nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đến được thực
hiện tại "Sổ đăng ký bí mật nhà nước đến" hoặc "Sổ chuyển giao bí mật
nhà nước";
- Trường hợp giao, nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà
nước với số lượng lớn được thực hiện bằng Biên bản giao nhận. Nội dung
Biên bản giao nhận phải thể hiện thông tin bên giao, bên nhận; số lượng
tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước phân loại theo từng mức độ mật; tình
trạng tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước tại thời điểm giao, nhận; danh
sách tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước kèm theo Biên bản giao nhận (số,
ký hiệu; ngày, tháng năm ban hành; cơ quan, tổ chức ban hành; trích
yếu, độ mật);
- Bên giao và bên nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà
nước phải đối chiếu về số lượng, kiểm tra việc đóng bì, đóng gói tài
liệu, vật chứa bí mật nhà nước. Trường hợp phát hiện thiếu số lượng, sai
sót trong đóng bì, đóng gói thì bên nhận yêu cầu bên giao gửi bổ sung,
xử lý trước khi vào sổ theo dõi và ký nhận.
Việc gửi, nhận văn bản điện tử bí mật nhà nước được quy định như sau:
-
Văn bản điện tử bí mật nhà nước phải được cấp số, thời gian ban hành,
tạo dấu chỉ độ mật màu đỏ trước khi gửi bằng chức năng của Hệ thống quản
lý văn bản điện tử bí mật nhà nước (trừ văn bản điện tử bí mật nhà nước
được số hóa);
- Văn bản điện tử bí mật nhà nước (trừ văn bản điện
tử bí mật nhà nước được số hóa) phải được ký bằng chữ ký số của người
có thẩm quyền và ký số của cơ quan, tổ chức;
- Máy tính dùng để
gửi, nhận văn bản điện tử bí mật nhà nước không được kết nối với mạng
máy tính (trừ mạng LAN độc lập), mạng Internet, mạng viễn thông, trừ
trường hợp thực hiện theo quy định pháp luật về cơ yếu hoặc quy định
khác của pháp luật có liên quan;
- Bên gửi có trách nhiệm kiểm
tra, theo dõi, bảo đảm tính toàn vẹn của văn bản điện tử bí mật nhà nước
và được gửi đến đúng bên nhận;
- Khi nhận văn bản điện tử bí mật
nhà nước, bên nhận phải kiểm tra tính toàn vẹn của văn bản, số lượng văn
bản, số trang của mỗi văn bản, tài liệu đính kèm (nếu có), đóng dấu văn
bản điện tử bí mật nhà nước đến và đăng ký bằng Hệ thống quản lý văn
bản điện tử bí mật nhà nước.
Trường hợp phát hiện sai sót, không
bảo đảm yêu cầu quy định, bên nhận phải kịp thời phản hồi thông qua Hệ
thống quản lý văn bản điện tử bí mật nhà nước để bên gửi biết, xử lý
theo quy định hoặc báo cáo người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức bên
nhận giải quyết.
Quy địnhh về mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ
Theo
quy định, việc mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu
giữ phục vụ công tác ở trong nước được quy định như sau:
- Tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước mang ra khỏi nơi lưu giữ phải phục vụ việc xử lý, giải quyết nhiệm vụ được giao;
-
Khi kết thúc nhiệm vụ, người mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra
khỏi nơi lưu giữ phục vụ công tác ở trong nước phải hoàn trả tài liệu,
vật chứa bí mật nhà nước vào nơi lưu giữ.
Việc mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ phục vụ công tác nước ngoài được quy định như sau:
-
Người mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ phục
vụ công tác nước ngoài phải có văn bản xin phép người có thẩm quyền được
quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật Bảo vệ bí mật nhà nước;
- Văn
bản xin phép mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ
phục vụ công tác nước ngoài phải nêu rõ họ, tên, chức vụ, đơn vị công
tác; tên loại, trích yếu nội dung, độ mật của tài liệu, vật chứa bí mật
nhà nước; mục đích sử dụng; thời gian, địa điểm công tác; biện pháp bảo
vệ bí mật nhà nước;
- Khi kết thúc nhiệm vụ, người mang tài liệu,
vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ phục vụ công tác nước ngoài
phải báo cáo người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ
chức trực tiếp quản lý tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đó về việc
quản lý, sử dụng bí mật nhà nước và bàn giao lại tài liệu, vật chứa bí
mật nhà nước cho cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý, trừ trường hợp
người mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ đồng
thời là người trực tiếp quản lý bí mật nhà nước.
Nghị định nêu rõ
tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước mang ra khỏi nơi lưu giữ phải chứa,
đựng, vận chuyển bằng phương tiện, thiết bị bảo đảm an toàn do người
đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý bí mật nhà nước quy định và
phải bảo vệ trong thời gian mang ra khỏi nơi lưu giữ, phòng ngừa lộ, mất
bí mật nhà nước.
Phương Nhi
Nguồn: baochinhphu.vn (04/3/2026).