Ngày 17 tháng 1 năm 2021
 
Skip portletPortlet Menu
Giới thiệu chung
 
Skip portletPortlet Menu
Hệ thống chính trị
 
Tin tức sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
Dân hỏi cqcn trả lời
Skip portletPortlet Menu
Nghệ An: Gỡ khó cho công tác xuất khẩu lao động do ảnh hưởng dịch Covid-19

Xem tiếp...

 
Danh mục
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
 
 
 
 
Tình hình sản xuất Công nghiệp tỉnh Nghệ An tháng 12/2019 và ước tính cả năm 2019
 
Tình hình sản xuất Công nghiệp tỉnh Nghệ An tháng 12/2019 và ước tính cả năm 2019 (18/12/2019 11:14 AM)

Thực hiện kế hoạch năm 2019 diễn ra trong bối cảnh tình hình quốc tế diễn biến phức tạp; kinh tế thế giới, thương mại toàn cầu tăng trưởng chậm lại; cạnh tranh chiến lược và căng thẳng thương mại giữa các nền kinh tế lớn gia tăng... Ở trong nước, những khó khăn, hạn chế nội tại của nền kinh tế ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống. Trong tỉnh, tình hình thời tiết nắng nóng gay gắt, khô hạn kéo dài, những tháng cuối năm xảy ra mưa bão, ngập lụt; giá cả của một số mặt hàng thiết yếu tăng đã ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của người dân, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.


Trong năm 2019, trên địa bàn tỉnh Nghệ An có 1.692 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 7,4% so với năm trước; Tổng số vốn các doanh nghiệp đăng ký đạt 15.324 tỷ đồng, tăng 49,9% so với năm trước, bình quân khoảng 9,05 tỷ đồng/doanh nghiệp; số chi nhánh, văn phòng đại diện có 624 đơn vị, giảm 175 đơn vị so với năm trước.


Số doanh nghiệp giải thể trong năm 2019 là 238 đơn vị, tăng 10,7% so với năm trước; Có 612 doanh nghiệp đăng ký hoạt động trở lại sản xuất kinh doanh, tăng 106 doanh nghiệp so với năm 2018. Số lần doanh nghiệp đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh là 2696 lần, tăng 17,3% so với cùng kỳ. Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng đạt 99,73% đứng đầu cả nước.


- Chỉ số sản xuất Công nghiệp tỉnh Nghệ An tháng 12/2019 ước bằng 104,59% so với tháng 11/2019, trong đó:


+ Ngành công nghiệp khai khoáng bằng 99,41% so với tháng 11/2019. Trong đó: Đá xây dựng qua chế biến bằng 104,11% so với tháng trước; Sản lượng Quặng thiếc bằng 88,24%; Đá xây dựng khác bằng 94,44%.


+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước bằng 105,75% so với tháng trước. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng thấp do ảnh hưởng của một số ngành như sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn; Sản xuất sản phẩm điện tử; Sản xuất hóa chất; Sản xuất đồ uống khó khăn tìm thị trường tiêu thụ nên sản phẩm sản xuất ra giảm như: Sữa chua bằng 83,8%; Bia đóng lon bằng 68,57%; Khăn quàng bằng 95,03%; Thùng carton bằng 92,02%; Bê tông tươi bằng 94,46%; Ống thép Hoa  Sen bằng 69,58%; Loa bằng 90,56%. Bên cạnh đó một số sản phẩm tăng cao như: Sữa tươi tăng 23,35%; Bia đóng chai tăng 1,5 lần; Quần áo không dệt kim tăng 40,3%


+ Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí bằng 96,58% so với tháng 11/2019. Trong đó sản lượng điện sản xuất ước bằng 97,37% so với tháng trước; Điện thương phẩm ước bằng 93,81%.


+ Ngành Cung cấp nước, quản lý và xử lý nước thải, rác thải ước bằng 100,12% so với tháng 11/2019.Trong đó: Nước máy ước bằng 99,03% so với tháng trước; Dịch vụ thu gom rác thải ước bằng 103,2%; Dịch vụ làm sạch bể phốt ước bằng 103,92%.


- Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 12/2019 tăng 17,07% so với cùng kỳ tháng 12/2018:


Nguyên nhân tăng do ngành công nghiệp chế biến tăng 19,46%, cụ thể tình hình sản xuất ngành công nghiệp trong tháng 12 như sau:


+ Ngành Công nghiệp khai khoáng tăng 10,79% so với cùng kỳ. Trong đó: Sản phẩm Quặng thiếc ước đạt 18 tấn, ước bằng  so với cùng kỳ; Đá xây dựng khác ước đạt 226,3 nghìn m3, tăng 10,51%; Đá xây dựng qua chế biến ước đạt 59,4 nghìn m3, giảm 22,98%.


+ Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,46% so với cùng kỳ. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng do cùng kỳ năm trước một số nhà máy khó khăn trong tiêu thụ nên giảm sản lượng sản xuất nay đã tìm được thị trường tiêu thụ như: Sữa chua ước đạt 2738,6 tấn, tăng 20,4%; Bia đóng chai ước đạt 6097 nghìn lít, tăng 57,61%; Bia lon ước đạt 7768 nghìn lít, tăng 15,82%; Xi măng ước đạt 550 nghìn tấn, tăng 28,93; Thức ăn gia súc ước đạt 11,2 nghìn tấn bằng 105,78%; Sữa tươi ước đạt 20,15 triệu lít, tăng 13,4%; Bê tông tươi ước đạt 32,8 nghìn m3, tăng 2,9 lần...


Một số nhà máy khó khăn về tìm kiếm thị trường tiêu thụ, sản phẩm sản xuất ra khó tiêu thụ, dây chuyền sản xuất lạc hậu, ngừng sản xuất để sửa chữa lớn và chuyển đổi dây chuyền nên sản lượng sản xuất ra giảm như: Hộp lon bia ước đạt 548 tấn, giảm 34,53% so với cùng kỳ; Nắp lon bia ước đạt 8 tấn, giảm 73,45%;  Tôn lợp ước đạt 59.234 tấn, giảm 12,72%; Thùng carton ước đạt 1773 nghìn chiếc, giảm 44,88%... Ngoài ra, Nắp lon bia tạm dừng sản xuất, hộp lon bia chỉ sản xuất nguyên vật liệu tồn kho để chờ thay đổi dây chuyền sản xuất.


+ Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí bằng 101,06% so với cùng kỳ. Điện sản xuất trong tháng ước đạt 168,6 triệu KWh, bằng 100,57% so với cùng kỳ; Điện thương phẩm ước đạt 250 triệu KWh, tăng 4,49%.


+ Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý nước thải, rác thải bằng 100,59% so với cùng kỳ. Trong đó: Sản phẩm Nước máy ước đạt 2,4 triệu m3 tăng 7,03% so với cùng kỳ; Dịch vụ thu gom rác thải ước đạt 4,7 tỷ đồng, giảm 10,88%; Dịch vụ làm sạch bể phốt ước đạt 2,2 tỷ đồng, giảm 20%.


- Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp ước tính cả năm 2019:


Tính chung  cả năm chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,53% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể chỉ số sản xuất các ngành như sau:


+ Công nghiệp khai khoáng tăng 3,05% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng thấp do tài nguyên khoáng sản ngày càng cạn kiệt, khai thác khoáng sản ngày khó khăn, đơn giá đền bù đất đai hoa màu cao, nhiều doanh nghiệp vỡ nợ đã tạm ngừng hoạt động hoặc chuyển sang kinh doanh lĩnh vực khác. Sản phẩm Quặng thiếc khai thác ước đạt 230 tấn, bằng 106,44% so với cùng kỳ; Đá xây dựng qua chế biến ước đạt 691,3 nghìn m3, giảm 20,83%; Đá xây dựng khác ước đạt 2635 nghìn m3, giảm 4,22%.


+ Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,6% so với cùng kỳ. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng do một số nhà máy đã đầu tư nâng cấp mở rộng sản xuất, cộng với việc các doanh nghiệp mới đã đi vào hoạt động từ đầu năm 2019, ước tính giá trị sản xuất đạt 4766 tỷ đồng như: Nhà máy điện tử EMTECH, Nhà máy sản xuất ngói màu không nung VICEM, Nhà máy bánh kẹo Hải Châu II, Nhà máy may Perseption USA, Dây chuyền 2 Nhà máy may Minh Anh, Nhà máy may Tăng Tiến Đạt, Nhà máy may Đức Phát, Nhà máy may Sangwoo, Nhà máy bao bì quốc tế ECO, Nhà máy sản xuất đá trang trí Viet Home Stone... Một số sản phẩm tăng như : Bao bì bằng giấy ước đạt 58,6 triệu chiếc, tăng 30,46% so với cùng kỳ; Xi măng ước đạt 6236 nghìn tấn, tăng 38,19%; Bê tông tươi ước đạt 407,2 nghìn m3, tăng 27,76%;  Phân NPK ước đạt 58,3 nghìn tấn, tăng 32,35%; Vỏ bào dăm gỗ ước đạt 505,6 nghìn tấn, tăng 47,17%; Thức ăn gia súc ước đạt 134 nghìn tấn, tăng 28,61%; Bia đóng chai ước đạt 62,2 triệu lít, tăng 20,21%; Ống nhựa tiền phong ước đạt 21,3 nghìn tấn, tăng 28,86%; Sữa chua ước đạt 38 nghìn tấn, tăng 20,93%; Loa ước đạt 130 triệu cái, tăng 33,91%...


Một số sản phẩm có mức tăng trưởng thấp và giảm do ảnh hưởng chính sách thương mại giữa Mỹ - Trung nên mức tiêu thụ giảm, lượng hàng tồn kho lớn. Hiện nay các doanh nghiệp đã có nhiều giải pháp thúc đẩy sản xuất, tiêu thụ nhưng một số sản phẩm  giảm so với cùng kỳ như: Ống thép Hoa Sen ước đạt 27,6 nghìn tấn, giảm 14,73%; Sợi ước đạt 15,4 nghìn tấn, giảm 16,28%; Tôn lợp ước đạt 666,2 nghìn tấn, giảm 15,26%... Ngoài ra, Nắp lon bia tạm dừng sản xuất để thay đổi dây chuyền sản xuất nên sản lượng ước tính chỉ đạt106,3 tấn, giảm 66,71%; Hộp lon bia ước đạt 5,5 nghìn tấn, giảm 38,84%.


+ Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí giảm 3,82% so với cùng kỳ. Nguyên nhân giảm do lưu lượng nước trong các hồ chứa thấp nên sản lượng điện sản xuất giảm. Điện sản xuất 12 tháng ước đạt 3084,9 triệu KWh, giảm 6,56%; Sản lượng Điện thương phẩm ước đạt 3431,3 triệu KWh, tăng 10,58%.


+ Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý nước thải, rác thải tăng 3,49% so với cùng kỳ. Trong đó sản phẩm Nước uống được đạt 29,9 triệu m3, tăng 6,38%, Dịch vụ thu gom rác thải ước đạt 64,5 tỷ đồng, bằng 99,75%; Dịch vụ làm sạch bể phốt ước đạt 23,9tỷ đồng, giảm 12,33% ./.


(Nhà máy Xi măng Tân Thắng với công suất 5.000 tấn clinker/ngày, tương đương 1,96 triệu tấn xi măng/năm, sẽ cho ra sản phẩm vào quý I/2020)


(Nhà máy và Dây chuyền sản xuất ván gỗ MDF của Công ty CP Lâm nghiệp Tháng Năm)


Nguồn: Trần Thị Vân Anh - Cục Thống kê Nghệ An


 
 |  Đầu trang

<<   <  1  2  >  >>
 
 
Cổng Thông tin điện tử Tỉnh Nghệ An