Ngày 23 tháng 10 năm 2020
 
 
 
 
Câu hỏi:

Xin hỏi, hành vi thi công trám lấp giếng khoan không đúng kỹ thuật theo quy định thì bị xử phạt như thế nào?

Theo Khoản 4 Điều 11 Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản, có hiệu lực thi hành từ ngày 10/5/2020, mức phạt đối với hành vi thi công trám lấp giếng khoan không đúng kỹ thuật theo quy định thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Mức phạt tiền này còn áp dụng đối với các hành vi sau:

- Thi công giếng khoan không theo đúng quy trình, thiết kế kỹ thuật đã được phê duyệt. Ngoài mức phạt tiền, hành vi này còn bị tước quyền sử dụng giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất trong thời hạn từ 03 tháng đến 06 tháng.

- Sử dụng nước thải, nước bẩn, nước có chứa dầu mỡ, hóa chất độc hại, phụ gia chứa hóa chất gây ô nhiễm làm dung dịch khoan hoặc pha trộn dung dịch khoan và đưa vào lỗ khoan;

- Thi công trám lấp giếng khoan khai thác nước dưới đất có đường kính ống chống hoặc ống vách lớn hơn 60 mm hoặc chiều sâu từ 30 m trở lên không có giấy phép hành nghề khoan;

- Thực hiện hành nghề không đúng quy mô đã quy định trong giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất;

- Thi công khoan thăm dò, khoan khai thác nước dưới đất cho tổ chức, cá nhân không có giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng nước dưới đất theo quy định. Ngoài mức phạt tiền, hành vi này còn bị đình chỉ hoạt động khoan thăm dò nước dưới đất trong thời hạn từ 03 tháng đến 06 tháng./.


Câu hỏi:

Xin hỏi, Nhà nước quy định mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về thăm dò khoáng sản độc hại như thế nào?

Theo Điều 34 Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản, có hiệu lực thi hành từ ngày 10/5/2020, mức phạt đối với hành vi vi phạm về thăm dò khoáng sản độc hại như sau:

1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm môi trường đã được xác định trong đề án thăm dò khoáng sản nhưng chưa gây ô nhiễm môi trường trong quá trình thăm dò. Ngoài bị phạt tiền, hành vi này còn phải chịu hình thức phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động thăm dò khoáng sản trong trường hợp tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần từ 01 tháng đến dưới 03 thángbuộc thực hiện các biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, tác động xấu đến sức khỏe con người.

2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi thực hiện không đầy đủ các biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm môi trường đã được xác định trong đề án thăm dò khoáng sản, gây ô nhiễm môi trường trong quá trình thăm dò. Ngoài bị phạt tiền, hành vi này còn phải chịu hình thức phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động thăm dò khoáng sản trong trường hợp tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần từ 03 tháng đến dưới 06 tháng và buộc thực hiện đầy đủ các biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường.

3. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi đã gây ô nhiễm môi trường trong quá trình thăm dò mà thực hiện không đầy đủ các biện pháp khắc phục. Ngoài bị phạt tiền, hành vi này còn phải chịu hình thức phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động thăm dò khoáng sản trong trường hợp tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần từ 06 tháng đến dưới 09 tháng và buộc thực hiện đầy đủ các biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường.

4. Phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường trong quá trình thăm dò mà không thực hiện biện pháp khắc phục. Ngoài bị phạt tiền, hành vi này còn phải chịu hình thức phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động thăm dò khoáng sản trong trường hợp tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần từ 09 tháng đến 12 tháng và buộc thực hiện đầy đủ các biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường.

Câu hỏi:

Xin hỏi, Nhà nước quy định mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về chuyển nhượng quyền thăm dò khoáng sản khi chưa được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép chấp thuận?

Theo Điều 33 Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản, có hiệu lực thi hành từ ngày 10/5/2020, mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về chuyển nhượng hoặc nhận chuyển nhượng quyền thăm dò khoáng sản khi chưa được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép chấp thuận, cụ thể như sau:

1. Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với trường hợp thăm dò khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường của hộ kinh doanh.

2. Từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với trường hợp giấy phép thăm dò khoáng sản do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp, trừ trường hợp thăm dò khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường của hộ kinh doanh.

3. Từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với trường hợp giấy phép thăm dò khoáng sản do Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp./.

Câu hỏi:

Xin hỏi, mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về khảo sát thực địa, lấy mẫu trên mặt đất để lựa chọn diện tích lập đề án thăm dò khoáng sản?

Theo Điều 30 Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản, có hiệu lực thi hành từ ngày 10/5/2020, mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về khảo sát thực địa, lấy mẫu trên mặt đất để lựa chọn diện tích lập đề án thăm dò khoáng sản như sau:

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đối với hành vi lấy mẫu khoáng sản trên mặt đất vượt quá số lượng, khối lượng, thời gian lấy mẫu đã được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận, cụ thể:

a) Phạt cảnh cáo đối với trường hợp hộ kinh doanh lấy mẫu khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường;

b) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này;

c) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

2. Phạt tiền đối với hành vi khảo sát thực địa, lấy mẫu trên mặt đất để lựa chọn diện tích lập đề án thăm dò khoáng sản mà chưa được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có khoáng sản chấp thuận bằng văn bản, cụ thể như sau:

a) Từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với trường hợp hộ kinh doanh lấy mẫu lập đề án thăm dò khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường;

b) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với trường hợp khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này;

c) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với trường hợp khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường./.


Câu hỏi: Xin hỏi, hành vi vi phạm quy định về chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy phép về tài nguyên nước sẽ bị xử phạt như thế nào?

Theo Điều 12 Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản, có hiệu lực thi hành từ ngày 10/5/2020 thì mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy phép về tài nguyên nước như sau:

1. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy phép. Ngoài bị phạt tiền, đơn vị, cá nhân vi phạm hành vi này còn bị tước quyền sử dụng giấy phép trong thời hạn từ 03 tháng đến 06 tháng.

2. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước mà không được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép chấp thuận. Ngoài bị phạt tiền, đơn vị, cá nhân vi phạm hành vi này còn bị tước quyền sử dụng giấy phép trong thời hạn từ 06 tháng đến 12 tháng./.


Câu hỏi:

Xin hỏi, hành vi không thực hiện báo cáo tổng hợp các công trình khoan nước dưới đất định kỳ hàng năm theo quy định thì bị xử phạt như thế nào?

Theo Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản, có hiệu lực thi hành từ ngày 10/5/2020, mức phạt đối với hành vi không thực hiện báo cáo tổng hợp các công trình khoan nước dưới đất định kỳ hàng năm theo quy định thì bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng.

Ngoài ra, mức phạt này còn áp dụng đối với các hành vi sau:

- Không thông báo bằng văn bản về vị trí, quy mô công trình khoan nước dưới đất và thời gian dự kiến thi công cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định;

- Không thông báo bằng văn bản cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp có sự thay đổi về người chịu trách nhiệm chính về kỹ thuật, nội dung đăng ký hoạt động kinh doanh hoặc nhiệm vụ được giao theo quy định./.

Câu hỏi: Xin hỏi, hành vi không thực hiện báo cáo hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định thì bị xử phạt như thế nào?

Theo điểm a Khoản 2 Điều 10 Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản, có hiệu lực thi hành từ ngày 10/5/2020, mức phạt đối với hành vi không thực hiện báo cáo hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Ngoài ra, mức phạt này còn áp dụng đối với các hành vi sau:

- Báo cáo không trung thực, không đầy đủ, không đúng chế độ báo cáo về hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định;

- Không thông báo lý do cho cơ quan cấp phép trong trường hợp lượng nước thực tế khai thác của chủ giấy phép nhỏ hơn 70% so với lượng nước được cấp phép trong thời gian 12 tháng liên tục./.

Câu hỏi:

Xin hỏi, trường hợp vi phạm các quy định về quan trắc, giám sát tài nguyên nước trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước bị xử phạt như thế nào?


Theo Điều 8 Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản, có hiệu lực thi hành từ ngày 10/5/2020 quy định, mức phạt đối với hành vi vi phạm các quy định về quan trắc, giám sát tài nguyên nước trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước như sau:

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không báo cáo kết quả quan trắc, giám sát cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định.

2. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau: Không lưu trữ thông tin, số liệu quan trắc theo quy định; Không quan trắc dưới 25% các thông số phải quan trắc, giám sát theo quy định.

3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi không quan trắc từ 25% đến dưới 50% các thông số phải quan trắc, giám sát theo quy định.

4. Phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi không quan trắc từ 50% đến dưới 75% các thông số phải quan trắc, giám sát theo quy định.

5. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau: Không quan trắc từ 75% các thông số phải quan trắc, giám sát trở lên theo quy định; Không lắp đặt thiết bị quan trắc, giám sát theo quy định;  Quan trắc, giám sát không đúng tần suất theo quy định; Quan trắc, giám sát không đúng thời gian theo quy định; Quan trắc, giám sát không đúng vị trí theo quy định; Không thực hiện việc kết nối, truyền tải dữ liệu quan trắc, giám sát với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định.

6. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau: Không thực hiện quan trắc, giám sát tài nguyên nước trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước theo quy định; Làm sai lệch số liệu quan trắc, giám sát tài nguyên nước.

7. Vi phạm các quy định về quan trắc, giám sát trong quá trình xả nước thải vào nguồn nước

Đối với hành vi vi phạm quy định về quan trắc, giám sát trong quá trình xả nước thải vào nguồn nước thì áp dụng xử phạt theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường./.
Câu hỏi: Xin hỏi, Nhà nước quy định mức phạt đối với hành vi vi phạm các quy định về điều kiện năng lực thực hiện đề án, dự án điều tra cơ bản, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước?

Theo Điều 6 Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản, có hiệu lực thi hành từ ngày 10/5/2020 quy định đối với hành vi vi phạm các quy định về điều kiện năng lực thực hiện đề án, dự án điều tra cơ bản, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước như sau:

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi thông báo không đủ nội dung theo quy định sau khi được lựa chọn thực hiện đề án, dự án điều tra cơ bản, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước.

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định sau khi được lựa chọn thực hiện đề án, dự án điều tra cơ bản, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước.

3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi của người phụ trách kỹ thuật của đề án, dự án điều tra cơ bản tài nguyên nước, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước cùng một thời điểm thực hiện từ 03 đề án, dự án điều tra cơ bản tài nguyên nước hoặc từ 04 dự án lập quy hoạch tài nguyên nước trở lên.

4. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi kê khai không trung thực thông tin trong hồ sơ năng lực lập đề án, báo cáo trong thực hiện đề án, dự án điều tra cơ bản, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước. Ngoài mức phạt này, đơn vị, cá nhân vi phạm còn bị đình chỉ hoạt động thực hiện đề án, dự án điều tra cơ bản, tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước trong thời hạn từ 01 tháng đến 06 tháng./.
Câu hỏi: Bà Kiều Thị Viêng (khối Hưng Phúc, Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An) hỏi: Tôi là quân nhân - vợ liệt sỹ. Năm 1988 tôi được Bộ Tư lệnh QK4 giao quản lý, sử dụng 44m2 nhà cấp 4 gắn liền quyền sử dụng diện tích 95m2 đất, thuộc khu gia binh 14 hộ, tại khối Hưng Phúc, phường Hưng phúc, thành phố Vinh bằng hình thức nộp tiền hóa giá nhà trên đất.

Năm 1999, UBND tỉnh Nghệ An quy hoạch lại khu đất. Và nay cơ quan thuế thành phố Vinh yêu cầu gia đình tôi nộp số tiền 63.800.000đ tiền đất để được cấp Giấy chứng nhận quyề sử dụng đất. Vậy tôi xin hỏi:

1. Việc tính thuế đất cho hộ gia đình tôi đúng hay sai?

2. Nếu tôi buộc phải nộp số tiền trên thì tôi có được làm đơn xin miễn, giảm theo quy định của Nhà nước đối với thân nhân Liệt sỹ hay không?

1. Nội dung bà Viêng kiến nghị việc thu tiền sử dụng đất khi cấp Giấy CNQSDĐ (không phải là thuế đất): Thửa đất số 106, tời bản đồ số 05, diện tích 110,4m2 mà bà Viêng lập hồ sơ đăng ký, cấp Giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được UBND phường Hưng Phúc xác nhận đất có nguồn gốc do Bộ tư lệnh Quân khu 4 bán hóa giá nhà năm 1992; diện tích đã được gia đình sử dụng ổn định trước ngày 15/10/1993 là 95,0m2; phần diện tích tăng sau ngày 15/10/1993 đến trước 01/7/2004 là 15,4m2. Căn cứ quy định tại điểm b, Khoản 6, Điều 20 Quyết định số 49/2014/QĐ-UBND ngày 19/8/2014 của UBND tỉnh cho thấy đối với 95,0m2 đã sử dụng trước ngày 15/10/1993 không thu tiền sử dụng đất. Đối với phần diện tích tăng được xác định tăng do điều chỉnh quy hoạch, bà Viêng không có giấy tờ về quyền sử dụng đất của phần đất này. Do đó, căn cứ quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 18 Quyết định số 49/2014/QĐ-UBND ngày 19/8/2014, bà Viêng phải nộp 50% tiền sử dụng đất theo giá đất và hệ số K được UBND tỉnh quy định, cụ thể: 15,4m2 (diện tích) x 4.000.000 đồng (giá đất) x 1 (hệ số K) x 50% = 30.800.000 đồng. Bà Viêng đã nộp số tiền sử dụng đất 30.800.000 đồng và 2.208.000 đồng tiền lệ phí trước bạ vào ngân sách Nhà nước, hiện bà Viêng đã được UBND thành phố cấp giấy chứng nhận (không phải là 63.800.000 đồng như kiến nghị của bà đã nêu).

2. Nội dung bà Viêng hỏi việc miễn, giảm tiền sử dụng đất khi cấp Giấy CNQSDĐ: Tại Công văn số 14458/BTC-QLCS ngày 13/10/2016 của Bộ Tài chính, Công văn số 411/UBND-NN ngày 19/1/2017 của UBND tỉnh Nghệ An và Công văn số 2012/STC-QLG&CS ngày 01/8/2016 của Sở Tài chính Nghệ An quy định việc miễn, giảm tiền sử dụng đất cho người có công được thực hiện theo quy định của pháp luật về người có công. Tuy nhiên, pháp luật về người có công với cách mạng không có quy định miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với các trường hợp: Chuyển mục đích từ đất khác sang đất ở; cấp Giấy CNQSDĐ ở và giao đất ở tái định cư. Như vậy, hồ sơ của bà Viêng thuộc trường hợp xin cấp Giấy CNQSDĐ ở, do đó không thuộc diện được miễn, giảm tiền sử dụng đất theo quy định./.

 

 

 


|<   <  1  2  3  >  >|