Ngày 23 tháng 10 năm 2020
 
 
 
 
Câu hỏi: Xin hỏi, người điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy sẽ bị xử phạt như thế nào?

Tại khoản 10 Điều 5 Xử phạt người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt có hiệu lực từ ngày 1/1/2020, quy định hành vi điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy sẽ bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000đồng.

Mức phạt này còn áp dụng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

- Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ;

- Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy của người thi hành công vụ.

- Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở.

Ngoài mức phạt về tiền, người thực hiện các hành vi trên còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 22 tháng đến 24 tháng./.

Câu hỏi: Xin hỏi, mức phạt đối với hành vi điều khiển xe gắn máy trên đường mà trong máu có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu như thế nào?

Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt vừa có hiệu lực từ ngày 1/1/2020.

Tại khoản 6 Điều 6 Xử phạt người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ theo Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định hành vi điều khiển xe xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở sẽ bị phạt tiền từ  2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đồng. Ngoài mức phạt về tiền, người thực hiện hành vi trên còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 10 tháng đến 12 tháng.

Mức phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng còn áp dụng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

- Sử dụng chân chống hoặc vật khác quệt xuống đường khi xe đang chạy. Người thực hiện hành vi này ngoài bị phạt tiền còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng.

- Điều khiển xe đi vào đường cao tốc, trừ xe phục vụ việc quản lý, bảo trì đường cao tốc. Người thực hiện hành vi này ngoài bị phạt tiền còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 tháng đến 05 tháng./.

Câu hỏi: Xin hỏi, mức phạt đối với hành vi điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở?

Tại khoản 8 Điều 5 Xử phạt người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt có hiệu lực từ ngày 1/1/2020, quy định hành vi điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở sẽ bị phạt tiền từ 16.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng. Ngoài mức phạt về tiền, người thực hiện hành vi trên còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 16 tháng đến 18 tháng.

Mức phạt tiền từ 16.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng và bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 05 tháng đến 07 tháng còn áp dụng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

- Điều khiển xe đi ngược chiều trên đường cao tốc, lùi xe trên đường cao tốc, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định;

- Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn./.

Câu hỏi:

Xin hỏi, mức phạt đối với hành vi điều khiển xe ô tô trên đường mà trong máu có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu như thế nào?

Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt vừa có hiệu lực từ ngày 1/1/2020.

Tại khoản 6 Điều 5 Xử phạt người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định hành vi điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở sẽ bị phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng. Ngoài mức phạt về tiền, người thực hiện hành vi này còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 10 tháng đến 12 tháng.

Mức phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng và bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng còn áp dụng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

- Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h đến 35 km/h;

- Dừng xe, đỗ xe trên đường cao tốc không đúng nơi quy định; không có báo hiệu để người lái xe khác biết khi buộc phải dừng xe, đỗ xe trên đường cao tốc không đúng nơi quy định; quay đầu xe trên đường cao tốc./.

Câu hỏi: Xin hỏi, hành vi không chốt, đóng cố định cửa sau thùng xe ô tô vận chuyển hàng hóa khi xe đang chạy sẽ bị xử phạt như thế nào?

Tại khoản 1 Điều 24 Xử phạt người điều khiển xe ô tô tải, máy kéo (bao gồm cả rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo theo) và các loại xe tương tự xe ô tô vận chuyển hàng hóa vi phạm quy định về vận tải đường bộ theo Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ (có hiệu lực từ ngày 1/1/2020) quy định hành vi người điều khiển xe ô tô tải, máy kéo (bao gồm cả rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo theo) và các loại xe tương tự xe ô tô vận chuyển hàng hóa vi phạm quy định không chốt, đóng cố định cửa sau thùng xe khi xe đang chạy sẽ bị phạt tiền từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng.

Mức phạt này còn áp dụng đối người điều khiển xe ô tô tải, máy kéo (bao gồm cả rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo theo) và các loại xe tương tự xe ô tô vận chuyển hàng hóa thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

- Vận chuyển hàng trên xe phải chằng buộc mà không chằng buộc hoặc có chằng buộc nhưng không chắc chắn, trừ hành vi chở công-ten-nơ trên xe (kể cả sơ mi rơ moóc) mà không sử dụng thiết bị để định vị chắc chắn công-ten-nơ với xe hoặc có sử dụng thiết bị nhưng công-ten-nơ vẫn bị xê dịch trong quá trình vận chuyển.

- Điều khiển xe xếp hàng trên nóc buồng lái, xếp hàng làm lệch xe./.

Câu hỏi: Xin hỏi, hành vi không làm thủ tục đổi lại Giấy đăng ký xe ô tô theo quy định khi thay đổi địa chỉ của chủ xe sẽ bị xử phạt như thế nào?

Tại khoản 4 Điều 30 Xử phạt chủ phương tiện vi phạm quy định liên quan đến giao thông đường bộ theo Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ (có hiệu lực từ ngày 1/1/2020) quy định hành vi không làm thủ tục đổi lại Giấy đăng ký của xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô theo quy định khi thay đổi địa chỉ của chủ xe sẽ bị phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với cá nhân, từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với tổ chức là chủ các loại xe trên. Ngoài mức phạt tiền, cá nhân, tổ chức là chủ xe còn phải buộc phải làm thủ tục đăng ký xe theo quy định

 Mức phạt này còn áp dụng đối với cá nhân, tổ chức là chủ các loại xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

- Không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô;

- Không thực hiện đúng quy định về biển số, trừ các hành vi lắp đặt, sử dụng thiết bị thay đổi biển số trên xe trái quy định. Ngoài mức phạt tiền, cán nhân tổ chức là chỉ của các xe vi phạm hành vi này buộc phải thực hiện đúng quy định về biển số, quy định về kẻ chữ trên thành xe và cửa xe theo quy định.

 

Câu hỏi: Xin hỏi, mức phạt đối với hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định?

Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt vừa có hiệu lực từ ngày 1/1/2020.

Tại Khoản 4 và Khoản 7 Điều 30 Xử phạt chủ phương tiện vi phạm quy định liên quan đến giao thông đường bộ Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định: Phạt tiền từ 400.000 - 600.000 đồng đối với cá nhân, từ 800.000 - 1,2 triệu đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô.

Phạt tiền từ 2 - 4 triệu đồng đối với cá nhân, từ 4 - 8 triệu đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng, các loại xe tương tự xe ô tô.

Theo đó, người điều khiển phương tiện đi thuê, đi mượn hoặc sử dụng chung phương tiện với người thân trong gia đình để tham gia giao thông sẽ không bị xem xét, xử lý về hành vi xe không chính chủ./.

Câu hỏi: Xin hỏi, hành vi tự ý thay đổi màu sơn của xe không đúng với màu sơn ghi trong Giấy đăng ký xe sẽ bị xử phạt như thế nào?

Tại khoản 2 Điều 30 Xử phạt chủ phương tiện vi phạm quy định liên quan đến giao thông đường bộ theo Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ (có hiệu lực từ ngày 1/1/2020) quy định hành vi tự ý thay đổi màu sơn của xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô không đúng với màu sơn ghi trong Giấy đăng ký xe sẽ bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với cá nhân, từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng đối với tổ chức là chủ các loại xe trên. Ngoài mức phạt tiền, cá nhân, tổ chức là chủ xe còn buộc phải khôi phục lại màu sơn ghi trong Giấy đăng ký xe theo quy định.

 Mức phạt này còn áp dụng đối với cá nhân, tổ chức là chủ các loại xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Lắp kính chắn gió, kính cửa của xe không phải là loại kính an toàn; Ngoài mức phạt tiền, cá nhân, tổ chức là chủ xe còn buộc phải thay thế thiết bị đủ tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật theo quy định (lắp đúng loại kính an toàn);

c) Không làm thủ tục khai báo với cơ quan đăng ký xe theo quy định trước khi cải tạo xe (đối với loại xe có quy định phải làm thủ tục khai báo)./.

Câu hỏi: Xin hỏi, mức phạt đối với hành vi dừng, đỗ xe ô tô không có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết?

Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt vừa có hiệu lực từ ngày 1/1/2020.

Tại khoản 1 Điều 5 Xử phạt người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định hành vi dừng xe, đỗ xe không có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết sẽ bị phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng. Ngoài hình phạt về tiền, nếu hành vi này mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng.

Mức phạt này còn áp dụng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

- Khi đỗ xe chiếm một phần đường xe chạy không đặt ngay báo hiệu nguy hiểm theo quy định.

- Không gắn biển báo hiệu ở phía trước xe kéo, phía sau xe được kéo; điều khiển xe kéo rơ moóc không có biển báo hiệu theo quy định;

- Bấm còi trong đô thị và khu đông dân cư trong thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 05 giờ ngày hôm sau, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định./.

Câu hỏi: Bạn Hoa (Yên Thành) hỏi: Chính phủ mới ban hành Nghị định mới về việc tăng mức xử phạt khi tham gia giao thông. Xin hỏi khi tham gia giao thông trên đường, người điều khiển xe quên bật đèn xi-nhan thì bị xử phạt như thế nào?

Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt vừa có hiệu lực từ ngày 1/1/2020. Hành vi người điều khiển xe quên bật đèn xi-nhan thì bị xử phạt như sau:

- Đối với xe máy: Phạt tiền 100.000-200.000 đồng khi chuyển làn đường không đúng nơi được phép hoặc không có tín hiệu báo trước; phạt tiền 400.000-600.000 đồng khi chuyển hướng không có tín hiệu báo hướng rẽ.

- Đối với ôtô: Phạt tiền 400.000-600.000 đồng khi chuyển làn đường không đúng nơi được phép hoặc không có tín hiệu báo trước; phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1,2 triệu đồng khi chuyển hướng không có tín hiệu báo hướng rẽ.

Đặc biệt, phạt tiền 3-5 triệu đồng khi chuyển làn đường không đúng nơi được phép hoặc không có tín hiệu báo trước khi chạy trên đường cao tốc. Đây cũng là khung hình phạt cao nhất cho lỗi vi phạm liên quan đến đèn báo rẽ./.


|<   <  1  2  3  4  5  6  7  >  >|