Ngày 25 tháng 2 năm 2017
 
Skip portletPortlet Menu
Giới thiệu chung
 
Skip portletPortlet Menu
Hệ thống chính trị
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tại sao phải chuyển đổi mã vùng điện thoại cố định?
Tại sao phải chuyển đổi mã vùng điện thoại cố định? (08/02/2017 08:25 AM)

Theo Quyết định số 2036/QĐ-BTTTT ngày 21/11/2016 của Bộ TT&TT ban hành Kế hoạch chuyển đổi mã vùng, 59/63 tỉnh/thành phố trên toàn quốc (trừ 4 tỉnh là Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hòa Bình và Hà Giang) sẽ được chuyển đổi từ mã vùng cũ sang mã vùng mới. Mã vùng cũ của tỉnh Nghệ An trong nhóm 13 tỉnh/thành thực hiện trong giai đoạn 1 của Kế hoạch sẽ chuyển đổi sang mã vùng mới từ ngày 11/2/2017. Tại sao phải chuyển đổi mã vùng và tác động của việc chuyển đổi mã vùng đến các đối tượng sử dụng dịch vụ viễn thông như thế nào là câu hỏi được rất nhiều người quan tâm hiện nay.


Căn cứ ban hành kế hoạch chuyển đổi mã vùng


Năm 2009, Quốc hội ban hành Luật Viễn thông, sau đó Chính phủ ban hành Nghị định số 25/2011/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Viễn thông, quy định kho số viễn thông là tài nguyên quốc gia, do đó cần phải quản lý một cách hiệu quả nhất để phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu sử dụng dịch vụ của người dân. Chính phủ giao cho Bộ TT&TT nghiên cứu và ban hành Thông tư về Quy hoạch kho số viễn thông.


Mã vùng Nghệ An sẽ chuyển đổi từ 38 thành 238 từ ngày 11/2/2017

Ngày 22/12/2014, Bộ TT&TT đã ban hành Thông tư số 22/2014/TT-BTTTT về Quy hoạch kho số viễn thông trên cơ sở đánh giá nhu cầu sử dụng các đầu số viễn thông và khả năng đáp ứng của cơ sở hạ tầng viễn thông hiện nay. Việc quy hoạch kho số nhằm bảo đảm việc sử dụng tài nguyên hiệu quả, bảo đảm tính bền vững của quy hoạch này trong một thời gian dài, tránh việc thường xuyên thay đổi mã số ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.


Những yếu tố căn bản tác động đến chủ trương chuyển đổi mã vùng


Thứ nhất là sự hạn chế của kho số và bất cập trong phân bổ kho số


Như chúng ta đã biết, kho số viễn thông không phải là vô hạn. Tổng số mã dành cho các thuê bao bao gồm 9 chữ số bắt đầu từ 1-9, nếu tính cả số mào đầu quốc gia (0) nữa là 01-09. Theo quy hoạch kho số cũ, mã số dành cho mạng cố định là 7 chữ số từ 2-8, ví dụ 20 Lào Cai, 29 Yên Bái, 38 Nghệ An, 39 Hà Tĩnh, 4 Hà Nội, 8 Thành phố Hồ Chí Minh,... (đến năm 2008 có một chút điều chỉnh là thêm số 3 vào sau các mã số này, ví dụ 38 của Nghệ An thành 383) và mã số dành cho mạng di động gồm 2 chữ số là 1 và 9, ví dụ 168, 169, 90, 91, 96, 97, 98,...


Bên cạnh đó, thị trường viễn thông trong nhiều năm qua đã có sự thay đổi căn bản về công nghệ cũng như xu hướng sử dụng dịch vụ, cụ thể là chuyển từ cố định sang di động. Cụ thể hơn, cách đây hơn 50 năm từ khi có ngành viễn thông đến khoảng năm 2008, khi đó dịch vụ thông tin di động chưa bùng nổ như hiện nay thì số lượng thuê bao trên thị trường chủ yếu là điện thoại cố định với hàng chục triệu số thuê bao trên toàn quốc so với vài triệu thuê bao điện thoại di động. Do đó trong quy hoạch kho số cũ sử dụng đến 7 đầu số từ 2-8 cho mã vùng của mạng cố định và chỉ dành 2 đầu số 1 và 9 cho mã mạng của mạng di động. Gần 20 năm nay, thông tin di động bùng nổ và người sử dụng chuyển dần từ sử dụng điện thoại cố định sang điện thoại di động, kéo theo số lượng thuê bao điện thoại cố định nhanh chóng giảm xuống chỉ còn lại khoảng 7 triệu thuê bao (chủ yếu là của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp) so với khoảng hơn 130 triệu thuê bao di động.


Người dùng sẽ được hưởng các lợi ích lâu dài từ việc chuyển đổi mã vùng

Theo ước tính của Bộ TT&TT, trong tương lai số lượng thuê bao cố định sẽ tiếp tục giảm và các kết nối di động không ngừng tăng lên, không chỉ giao tiếp giữa người với người mà còn giữa người với máy, máy với máy, ví dụ điều khiển nhà thông minh, giao thông thông minh, chăm sóc y tế từ xa,... Theo ước tính đến năm 2050, toàn thế giới có khoảng 50 tỷ kết nối di động như vậy.


Như vậy, bất cập lộ rõ khi số lượng thuê bao cố định ngày càng ít đi mà sử dụng đến 7 mã số trong khi số lượng thuê bao di động không ngừng tăng lên lại chỉ có 2 mã số, dẫn đến kho số dành cho thông tin di động dần bị cạn kiệt và kho số cho cố định lại dư thừa. Do đó, nếu không quy hoạch lại kho số thì chúng ta không thể đảm bảo được các kết nối cho hiện nay và cho tương lai.


Theo Quy hoạch mới, tổng số 9 mã số được chia thành: [1, 3-5, 7-9] dành cho mã mạng viễn thông di động mặt đất (trong đó [1] dành cho giao tiếp giữa thiết bị và thiết bị, còn lại [3-5, 7-9] dành cho giao tiếp giữa người với người); [2] dành cho mã vùng; [6] dành cho mã mạng viễn thông cố định vệ tinh, dùng riêng, Internet.


Thứ hai là để đảm bảo đủ đầu số cho các nhà mạng viễn thông


Cách đây khoảng 20 năm, trên thị trường có rất ít các doanh nghiệp viễn thông cung cấp hạ tầng và dịch vụ, chủ yếu là VNPT cung cấp độc quyền, chưa có khái niệm doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nội dung. Sau khi mở cửa thị trường, bắt đầu có sự tham gia của các doanh nghiệp cung cấp hạ tầng, dịch vụ di động khác như Viettel, Vietnamobile, Gtel, VTC, FPT,... và sự tham gia của rất nhiều các doanh nghiệp nội dung số sử dụng các đầu số như 1400, 1800, 1900,... trong khi quy hoạch trước đây không quy hoạch các đầu số cho các dịch vụ nội dung này. Và đây cũng chính là bất cập mà Bộ TT&TT đã nhận thấy và thấy rằng cần phải quy hoạch lại kho số để đảm bảo phù hợp với thị trường cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông.


Thứ ba là đảm bảo sự hợp lý về độ dài của dãy quay số thuê bao.


Theo quy hoạch cũ thì mã vùng của thuê bao cố định có độ dài là 1, 2 hoặc 3 chữ số, cụ thể là Hà Nội, TP Hồ Chí Minh 1 chữ số là 4 và 8, 37 tỉnh/thành phố có 2 chữ số, ví dụ 38 của Nghệ An và 24 tỉnh/thành có 3 chữ số, ví dụ 280 của Thái Nguyên.


Dãy số thuê bao (đứng sau mã vùng) có độ dài là 7 hoặc 8 chữ số, cụ thể là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có 8 chữ số, 61 tỉnh/thành còn lại là 7 chữ số. Như vậy, nếu tính cả số mào đầu quốc gia (0) thì độ dài của dãy quay số thuê bao (gồm mã số và số thuê bao) là 10 hoặc 11 số. Theo đánh giá của Bộ TT&TT thì việc quay số với độ dài không thống nhất dễ gây nhầm lẫn và khó nhớ đối với người sử dụng dịch vụ, do đó việc quy hoạch lại mã vùng điện thoại cố định nhằm khắc phục nhược điểm này.


Ngoài ra, năm 2016 các mạng di động được cấp thêm các đầu số 086, 088 và 089; các đầu số này có hai chữ số đầu trùng với mã vùng của Thành phố Hồ Chí Minh (08 bao gồm số mào đầu). Do đó thuê bao bị gọi dễ nhầm tưởng các đầu số gọi đến từ các thuê bao 086, 088, 089 là từ máy điện thoại cố định từ TP Hồ Chí Minh. Quy hoạch kho số mới sẽ khắc phục được vấn đề này.


Tác động của việc chuyển đổi mã vùng


Việc chuyển đổi mã vùng sẽ có hai chiều tác động. Về mặt tích cực thì có thể thấy rõ như phân tích cụ thể ở trên. Ở chiều ngược lại thì việc chuyển đổi mã vùng sẽ phần nào tác động người sử dụng như thay đổi mã vùng điện thoại liên hệ của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, các hợp đồng giao dịch, biển quảng cáo, bao bì sản phẩm, danh thiếp cá nhân,...


Theo Bộ TT&TT thì mã vùng chỉ phục vụ các cuộc gọi cố định đường dài liên tỉnh, quốc tế; và cũng theo thống kê của Bộ thì lưu lượng từ cuộc gọi đường dài, từ di động gọi vào các máy cố định, và từ quốc tế vào máy cố định Việt Nam… chỉ chiếm 1,6% tổng số lưu lượng viễn thông Việt Nam. Số lượng thuê bao cố định hiện nay cũng chủ yếu là các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, do đó việc chuyển đổi mã vùng là có tác động nhưng là rất nhỏ trong một thời gian ngắn so với lợi ích đạt được về lâu dài.


Ngoài ra, sau khi sắp xếp lại mã vùng thì những mã dư ra sẽ được bố trí cho các mạng di động. Khi đó các số di động 11 số dài và khó nhớ sẽ được chuyển thành 10 số dễ nhớ hơn. Việc chuyển đổi từ 11 số sang 10 số là một bước khác trong Quy hoạch kho số viễn thông, tác động của nó sẽ được các chuyên gia đánh giá cụ thể sau này.


HỒ TRUNG ĐÔNG


 
 |  Đầu trang
 
Tin đã đưa:
 
 
 
 
Dân hỏi cqcn trả lời
Skip portletPortlet Menu
Đảm bảo hàng hóa dịp cuối năm 2016 và Tết Đinh Dậu 2017

Xem tiếp...

 
 
Skip portletPortlet Menu
Thông tin tra cứu
 
 
 
Cổng Thông tin điện tử Tỉnh Nghệ An